Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P5) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Chủ nghĩa khắc Kỷ vào thế kỷ thứ I và thứ II scn được gọi là chủ nghĩa khắc kỷ La Mã, với những triết gia tiêu biểu như Sénèque (4 tcn - 65 scn); Épitète (50-130 scn); Marc-Aurèle (121-180 scn).

B. CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ THỜI CUỐI

Chủ nghĩa khắc Kỷ vào thế kỷ thứ I và thứ II scn được gọi là chủ nghĩa khắc kỷ La Mã, với những triết gia tiêu biểu như Sénèque (4 tcn - 65 scn); Épitète (50-130 scn); Marc-Aurèle (121-180 scn).

1. SÉNÈQUE (4 scn - 65 scn)

Sénèque sinh tại Cordua, một thành phố miền Nam Tây Ban Nha. Cuộc đời Senèque trải qua nhiều cuộc thăng trầm, lên voi xuống chó. Dưới thời hoàng đế Claudius, Senèque bị đi đầy tại đảo Corse. Nhưng khi hoàng hậu Arippina nắm quyền, ông lại được triệu về làm gia sư cho hoàng đế Néron và trở thành một quan chức lớn trong triều. Nhưng rồi chính Néron lại cách chức ông và buộn ông phải tự quyên sinh. Tư tưởng triết lý của Senèque là một nỗ lực trở lại nguồn gốc của phái Khắc Kỷ nhưng nhuốm mầu bi quan.

Vào thời đó, các nhà trí thức Roma đã chịu ảnh hưởng của nhà hùng biện Cicéron. Sénèque nhận thấy Cicéron đã thích ứng học thuyết khắc kỷ với hoàn cảnh xã hội và loại bỏ mất phần tinh túy của học thuyết; nên Sénèque cố gắng thực hiện lại tư tưởng nầy bằng chính đời sống gương mẫu của mình.

Sénèque không quan tâm nhiều đến lý luận và biện chứng, chỉ nhằm đề cao một "nghệ thuật sống". Sénèque cho rằng : "Triết học là việc tìm kiếm nhân đức bằng chính nhân đức; bởi vì không thể có nhân đức nếu người ta không tìm kiếm nó và không thể có việc tìm kiếm nhân đức nếu không có chính nhân đức" (Sénèque, Lettres 89).

Tuy nhiên, Sénèque cũng có lập trường khác với các nhà sáng lập ; ông ý thức rất rõ rệt về thân phận bi đát của con người. Ông không quá lạc quan như các triết gia khắc kỷ thời đầu, vốn khẳng định một sự chiến thắng của ý chí trên hoàn cảnh; nhưng Snèque nhận thấy rằng: "Tất cả chúng ta là những người gian ác, chúng ta sống như những người gian ác giữa những người gian ác" (Tính nóng giận III, 26, 4).

Ông giải thích điều nầy bằng tình trạng xung khắc giữa linh hồn và thân xác; giữa yếu tố hữu lý và điều ngoại lý trong mỗi con người. Trong tình trạng đó, chỉ có cái chết mới có thể giải thoát con người khỏi sự giằng co đau khổ.

2. EPICTÈTE (1 tcn - )

Épictète sanh tại thành Hieropolis xứ Phrygia, vào đầu thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên. Ông là nô lệ của Epaphrodite, một người trước đây cũng là nô lệ Néron, nhưng lại cư xử độc ác với nô lệ. Có truyện kể rằng, một lần Épaphrodite cầm chân Épictète mà bẻ. Épictète bình thản nói : "Nếu ông cứ tiếp tục như thế, chân tôi sẽ gẫy". Nhưng người chủ tiếp tục trò vui và chân ông bị gãy thật. Épitète bình thản nói : "Tôi đã nói với ông rồi; chân tôi đã gẫy".

Khi được trả tự do, Épictète mở trường dạy học tại Roma. Ông áp dụng phương pháp "sản ý" của Socrate, và bị nhiều người ganh ghét. Về sau, ông bị hoàng đế Domitianus ra lệnh trục xuất khỏi Roma và kết án lưu đầy. Ông đến Epire, cư ngụ tại thành Nicopolis, và qua đời tại đó trong cảnh bần khổ. Trên ngôi mộ của ông có khắc câu : "Tôi là Épictète, người nô lệ, què chân, bần hàn, nhưng là bạn thân của các vị thần thánh".

Épictète không để lại một tác phẩm nào. Người ta chỉ biết tư tưởng của Ông qua các đồ đệ. Épitète chú ý đến nghệ thuật sống "nên người"; và ông cũng thể hiện học thuyết của mình bằng một đời sống gương mẫu.

Triết lý của Épictète dựa trên việc kiềm chế dục vọng. Theo ông, ta phải phân biệt hai loại sự vật: Những "sự vật lệ thuộc vào ta" như dư luận, khuynh hướng, tình cảm, đức tính. "Lệ thuộc vào ta" có nghĩa là chính ta có thể sáng tạo hay ít là điều khiển; còn những sự vật "không lệ thuộc vào ta" là sức khỏe, danh vọng, tiền của. Ta phải biết khôn ngoan để, tùy hoàn cảnh, mà ứng xử. Không nên lệ thuộc vào những điều không tùy thuộc vào khả năng quyết định của mình.

Con người có những đam mê xấu, nhưng con người cũng có trong thâm tâm một tiềm lực quí báu để hành động tốt. Ngay cả với những sự vật không lệ thuộc vào ta, ta cũng có thể mang lại cho nó một giá trị. Nói theo triết học hiện đại, ý thức đạo đức của con người là ý thức đánh giá (conscience valorisante). Ta có thể phủ nhận hay chấp nhận. Người hiền triết, kết cuộc chỉ gặp một chướng ngại đáng kể là chính mình.

Tóm lại, nhà hiền triết sống trong dòng thời gian, nhưng nhờ động lực tinh thần vượt qua mọi biến cố thời gian để đi tới Thượng Đế. Epictète nhấn mạnh đến đời sống nội tâm, tuân phục Thiên ý. Chính trong sự tuân phục nầy, con người cảm thức được tính tự do. Épictète lưu lại cho ta một ít lời cầu nguyện đượm mầu sắc Kitô giáo.

"Tôi đội ơn Chúa đã cho tôi sanh ra đời, tôi đội ơn Chúa vì những ơn Chúa đã ban cho tôi, tôi chỉ cần có thì giờ để tận dụng ơn Chúa. Xin Chúa hãy lấy lại và cất giữ nơi nào Chúa muốn; Vì mọi ơn là của Chúa, chính Chúa đã ban cho tôi" (Entretiens IV, 10,14-18).

3. MARC-AURÈLE

Epictète là một nô lệ được giải phóng, còn Marc-Aurèle lại là Hoàng Đế Roma. Tuy địa vị khác nhau, nhưng hai người cùng đeo đuổi một lý tưởng sống đời sống nội tâm chân chính.

Marc-Aurèle sinh ra tại Roma (121-181), gia đình Hoàng tộc, quê quán xứ Tây Ban Nha. Ông được Hoàng đế Antonius Pius thừa nhận quốc tịch Roma và cho tham gia vào quốc chánh. Năm 161, Marc-Aurèle kế vị Hoàng đế Antonius Pius.

Giữa lúc chinh chiến, đánh dẹp dân man di hăm dọa biên giới đông bắc của Đế quốc, Hoàng Đế cũng dành thì giờ suy nghĩ và soạn tác phẩm "Tư tưởng". Ông mất năm 181 tại Sirmium xứ Pannonie (Hung gia lợi).

Nơi Marc- Aurèle, con người hiền triết nổi bật hơn vai trò Hoàng đế; ông yêu chân lý, sống thành thật, quan tâm đến đời sống nội tâm và cố gắng sống tự chủ. Chính điều nầy giúp Hoàng đế vượt qua mọi trở ngại và đau khổ. Hoàng đế thích tạo trong thâm tâm một địa điểm và Ngài thường nương náu để kiểm điểm hành vi cử chỉ của mình: loại bỏ những lời dối hoặc của sinh hoạt xã hội và cố gắng sống liên kết với Thượng Đế.

Ông có khuynh hướng sống nội tâm, nên dễ dàng đón nhận thuyết khắc kỷ, mặc dầu ông cũng rất thích tư tưởng của triết gia Platon.

Nhưng Marc-Aurèle cũng nhận thức được sự yếu đuối của con người; ông thường nhấn mạnh về tình trạng chiến đấu của cuộc sống nhân linh. Sự "Xét mình" hằng ngày có thể cho thấy thấy rõ khuyết điểm của mình để nhờ đó mà tiến lên mãi mãi.

"Người ta tìm kiếm những nơi tịch mịch, nhà lá thôn dã, bãi biển, đồi núi. Con người không tìm gặp nơi nào yên tịnh hơn là trong tâm hồn mình".

"Con người sẽ tiết kiệm biết bao nhiêu thời giờ, nếu thay vì cứ bận tâm đến ngôn hành tư tưởng của tha nhân, họ chỉ lưu ý đến hành động của mình, ngõ hầu thực hiện những hoạt động chính trực và thánh thiện".

"Hồn ta ơi, biết chừng nào mi mới nên tốt đẹp đơn sơ, trần trụi, rõ rệt hơn chính thân xác bao bọc mi ? Chừng nào mi mới đếm được cái diễm phúc yêu thương nhân loại. Biết ngày nào mi mới được sung mãn tự túc để không còn phải đòi hỏi, ân hận điều gì, sống với các thần thánh và nhân loại trong tình liên kết ân tình để mi khỏi phải phiền trách họ và họ không bao giờ buộc tội mi ?"

Ta nên lưu ý rằng Marc-Aurèle chỉ viết ra những tư tưởng thường nhật để kiểm điểm và tu luyện bản thân chứ không có cao vọng "dạy đời". Tư tưởng của Marc-Aurèle thành thật, và đượm mầu sắc Kitô giáo, cho nên người ta nghĩ rằng Triết gia đã chịu ảnh hưởng của giáo lý Công giáo. Sự kiện nầy không phải hoàn toàn vô lý. Có truyền thuyết kể rằng : Hoàng đế luôn mang theo mình và đặt trên bàn viết một hình bán thân Platon cùng một tượng Chúa Giêsu.

< Xem lại phần 4

Xem tiếp phần 6 >