Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P3) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Cũng như học thuyết Épicure, trong phái Khắc kỷ, tất cả phần luận lý học và thiên nhiên học chỉ là những chuẩn bị cho phần luân lý mà thôi. Cũng vậy, triết gia khắc kỷ cũng đồng ý rằng hạnh phúc là cứu cánh của đời sống con người, nên hạnh phúc cũng là sự thiện tối cao. Hơn nữa, nét chính yếu của nền đạo đức khắc kỷ, theo lời của Zénon : "Hãy sống theo thiên nhiên" ("sequere naturam"); mục tiêu của đạo đức là đạt được trạng thái ataraxia, nghĩa là một sự bình lặng, không bị xáo trộn trong tâm hồn.
C. LUÂN LÝ
Cũng như học thuyết Épicure, trong phái Khắc kỷ, tất cả phần luận lý học và thiên nhiên học chỉ là những chuẩn bị cho phần luân lý mà thôi. Cũng vậy, triết gia khắc kỷ cũng đồng ý rằng hạnh phúc là cứu cánh của đời sống con người, nên hạnh phúc cũng là sự thiện tối cao. Hơn nữa, nét chính yếu của nền đạo đức khắc kỷ, theo lời của Zénon : "Hãy sống theo thiên nhiên" ("sequere naturam"); mục tiêu của đạo đức là đạt được trạng thái ataraxia, nghĩa là một sự bình lặng, không bị xáo trộn trong tâm hồn.
Những điều này cũng giống hệt với chủ trương của phái Khoái lạc. Tuy nhiên, lý luận của phái khắc kỷ là : Hạnh phúc không hệ tại vui thú như phái Khoái Lạc. Bởi vì hạnh phúc là một trạng thái bền bỉ, vững vàng, còn khoái lạc thì lại mau qua chóng hết.
Làm sao để sống thuận theo thiên nhiên và tránh được những xáo trộn trong tâm hồn ? Câu trả lời của phái khắc kỷ là:
1. Sống theo thiên nhiên là sống phù hợp với những khát vọng tự nhiên
Các triết gia Khắc kỷ cho rằng khuynh hướng tự nhiên nhất của mọi sinh vật là bản năng sinh tồn. Bản năng đó hiện diện luôn luôn trong mọi sinh hoạt của đời sống con người; nó thúc đẩy con người đi tìm những gì thích hợp với mình, đồng thời cho con người một ý thức về mình để chọn lựa những gì thích hợp với bản tính của mình. Nhưng khuynh hướng tự nhiên đó giống như một tòa nhà mở cửa; do đó, điều thiện vượt cũng vượt qua nhu cầu hạn hẹp của bản thân và hòa hợp với trật tự vũ trụ.
Cicéron nói về lập trường khắc kỷ như sau : "Thoạt khi một sinh vật vừa mới sinh ra thì nó đã được qui định cho chính nó và nó có một khuynh hướng tự bảo vệ, yêu mến bản tính của nó và tất cả những gì có khả năng bảo vệ nó; nhưng nó tự tách mình khỏi sự hủy diệt và tất cả những gì có thể đưa nó tới sự tự hủy diệt. Và họ (Stoiciens) đã chứng minh như thế này : trước khi hưởng thụ được khoái lạc hay đau khổ, những sinh vật tý hon đã đi tìm kiếm tất cả những gì hữu ích cho chúng, và xa lánh tất cả những gì làm hại cho chúng. Có lẽ sẽ không có như thế nếu chúng không thiết tha với bản tính của chúng và không sự mất sự hủy diệt bản tính ấy" [5].
2. Sống theo thiên nhiên là sống theo lý tính của vũ trụ
Con người là thành phần trong một cơ thể vũ trụ duy nhất, nên bị chi phối cách tất yếu của những định luật tất định của vũ trụ thiên nhiên. Chỉ có thể hạnh phúc khi ta biết sống hòa hợp với lý tính của vũ trụ thiên nhiên.
3. Sống theo thiên nhiên là sống theo sự quan phòng của Thượng Đế
Các triết gia Khắc Kỷ nhấn mạnh đến thái độ phó thác như một tinh thần đạo đức sâu xa của con người; bởi vì không có gì vượt ra khỏi sự quan phòng của Thượng Đế; và bởi vì Thượng Đế cũng ở trong chính ta. Với một "niềm tin" thuần nhất, về một vũ trụ thuần nhất, hình ảnh Thượng Đế của người khắc kỷ cũng thuần nhất trong toàn bộ cuộc sống con người. Nhờ tinh thần đó, triết gia khắc kỷ không còn có thể xoay sở cách nào khác hơn là "phó thác" trong sự chấp nhận "tự do".
Nhờ đó, ta đọc được nơi đây những lời vang lên như tiếng vọng của Tân Ước, chẳng hạn : "Tôi không vâng phục Thiên Chúa nhưng tôi thuận ý Người, tôi thực tâm theo người không phải vì cưỡng ép".
4. Sống theo thiên nhiên là sống theo lý trí của mình
Lý tính của vũ trụ thấm nhuần mọi vật, bó buộc các sự vật vô tri một cách tất yếu; còn con người có lý trí lại có thể nhận thức về qui luật ấy mà chấp nhận một cách "tự do", sáng suốt, chủ động.
5. Sống theo thiên nhiên là sống theo nhân đức
Nhân đức là "lý tính ngay thẳng" (recta ratio), tức là khả năng vững vàng để thuận tình theo qui luật của thiên nhiên. Trong đời sống luân lý, phái khắc kỷ đề cao ý chí hơn lý trí và đôi khi còn hơn cả thành quả thực hiện được cách cụ thể. Sau này, chúng ta sẽ thấy Kant chủ trương rằng không có một điều nào đáng gọi là thiện ngoại trừ thiện chí. Môn phái khắc kỷ thường phân biệt hai yếu tố trong nhân đức : chủ ý và nội dung. Lý tưởng nhất là khi người ta thực hiện được cả hai điều đó. Nhưng không phải ai cũng là triết gia để có thể làm được việc đó. Trong nhiều trường hợp, người ta chủ tâm nhưng "lực bất tòng tâm"; hoặc nhiều người hành động mà không có ý thức gì về lý tưởng của nhân đức.
Nhưng một thứ ý chí thuyết như thế cũng thường đi đến độc đoán; triết gia trở thành như một kẻ "bất khả ngộ", chỉ vì họ cương quyết, có thiện chí để đi đến chân lý.
6. Sống theo thiên nhiên là sống khôn ngoan
Người khôn ngoan là người thực sự "giầu có", vì họ luôn có đủ phương tiện để "mua sắm" được những gì mình cần thiết. Nói khác đi người khôn ngoan là người biết nhận định những gì mình thực sự cần thiết và có khả năng đạt được; nhờ đó họ luôn đạt gì những gì họ muốn. Khôn ngoan như thế là biết chế ngự các đam mê của mình, vì đam mê là "xung lực quá độ" (Diogène Laerce), là điều nghịch lý, trái với bản tính của con người. Có 4 thứ đam mê chính : vui, buồn, sợ hãi và ước muốn. Muốn chế ngự đam mê, người khôn phải biết phân định để
* Không bao giờ để cho mình vui hay buồn vì sự đánh giá của người khác. Muốn thế, ta đừng làm gì để mình phải xấu hổ với lương tâm của mình, vì nó làm mất phẩm giá của mình. Cảm giác mất danh dự, mất phẩm giá sẽ làm xáo trộn tâm hồn và đánh mất đi một lương tâm thanh thản.
* Không để những khát vọng sai lạc lôi cuốn tâm hồn. Chẳng hạn mong ước điều ta không thể đạt được; và lo sợ điều tất nhiên sẽ xẩy đến cho mình.
Muốn thế ta phải khôn ngoan phân định những gì thuộc khả năng của mình và những gì không thuộc khả năng của mình. Cần phải tuyệt đối dửng dưng với những điều vượt quá giới hạn của mình như biến cố, sức khỏe, tiền tài, danh vọng... và phải biết tự kiểm soát hay làm chủ chính mình đối với nhưng gì tùy thuộc vào mình, đó là khả năng phán đoán và quyết định. Vì cho dù hoàn cảnh hay sự kiện bên ngoài có xẩy ra thế nào, không gì có thể bắt buộc ta nghĩ là tốt hay xấu khi ta không muốn như vậy; không gì có thể bó buộc phán đoán của ta. Điều kiện để sống hạnh phúc là không bị ràng buộc, dính líu do những điều vượt khả năng của mình; nhưng vững vàng trong tự do chọn lựa của mình. Chỉ có một cái xấu thực sự, căn bản, đó là từ chối sự sự khôn ngoan; và chỉ có một sự thiện thực sự, đó là sống "an phận". Đúng như Épictète nói: "phải làm cho ý muốn của mình hợp với các biến cố, sao cho những gì xẩy đến cũng đều đúng với ý muốn của chúng ta".
Sống theo lý tính của vũ trụ, sống theo sự quan phòng của Thượng Đế hay sống theo lý trí, sống nhân đức..., đối với phái Khắc Kỷ, cũng chỉ là một.
J. Brun mô tả triết lý Khắc Kỷ là "một hình tròn mà trung tâm điểm ở khắp mọi nơi, còn chu vi không ở chỗ nào cả" [6]. Ta thấy rằng, trong triết lý khắc kỷ, tất cả những quảng diễn khác nhau, trong nhiều lãnh vực khác nhau, đều liên hệ mật thiết với nhau tựu trung cũng chỉ là một. Điểm nào cũng có thể là tâm điểm cả.
Chú thích
[5] Cicéron, De Finibus, III.5.16. Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 435.
[6] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 437.