Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P1) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
I. CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ Từ ngữ Stoicisme bắt nguồn từ Stoa poikilé (le Portique des peintures), nghĩa là hành lang có cột (trụ lang) tại đài kỷ niệm Pecile, nơi mà Zénon de Citium, người sáng lập ra học thuyết, đã dùng làm nơi giảng dạy. Học Phái này cũng được mệnh danh là học thuyết Khắc Kỷ, nghĩa là chủ trương một đời sống nhiệm nhặt, giới hạn nhu cầu để có thể sống hạnh phúc.
29
THUYẾT KHẮC KỶ
[Stoicisme]
I. CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ
Từ ngữ Stoicisme bắt nguồn từ Stoa poikilé (le Portique des peintures), nghĩa là hành lang có cột (trụ lang) tại đài kỷ niệm Pecile, nơi mà Zénon de Citium, người sáng lập ra học thuyết, đã dùng làm nơi giảng dạy. Học Phái này cũng được mệnh danh là học thuyết Khắc Kỷ, nghĩa là chủ trương một đời sống nhiệm nhặt, giới hạn nhu cầu để có thể sống hạnh phúc.
Khác với học thuyết Khoái Lạc, được hình thành khá hoàn bị với Épicure, học thuyết Khắc Kỷ trải qua một lịch sử dài, có tổ chức, nhưng cũng và có nhiều nét khác biệt qua các nhân vật khác nhau. Người ta có thể chia làm ba hoặc hai thời kỳ :
- Chủ nghĩa khắc kỷ thời đầu, với Zénon de Citium (322-264 tcn) người sáng lập học thuyết vào khoảng năm 300; và hai đồ đệ là Cléanthe và Chrysippe.
- Những triết gia tiếp nối
- Chủ nghĩa khắc kỷ cuối thời vào thế kỷ thứ I và thứ II scn, với những triết gia như Sénèque, Épictète và Marc-Aurèle. Thời kỳ này cũng gọi là chủ nghĩa khắc kỷ La Mã.
II. TÁC PHẨM
Đối với các tác giả thời kỳ đầu, các tác phẩm đã bị thất lạc hầu hết; người ta chỉ còn biết tên của các tác phẩm đó qua sự kể lại của Diogène Laerce, một học giả vào khoảng thế kỷ thứ ba; và một số các đoạn văn được trích dẫn trong các học giả ở các thế kỷ sau, nhưng một số lớn xuất phát từ phía những người chống đối Khắc Kỷ như Plutarque, Cicéron, Sextus Empiricus, Galien; cả Origène và các giáo phụ Kitô giáo nữa. Riêng với các triết gia khắc kỷ thời kỳ La Mã, người ta giữ được khá đầy đủ tác phẩm.
III. LẬP TRƯỜNG TRIẾT HỌC
Triết Học Khắc kỷ có nhiều đường nét chung với các học thuyết Khoái Lạc và Hoài Nghi, chẳng hạn :
- Do ảnh hưởng của Platon và Aristote, các học phái về sau đều trình bầy hệ thống triết lý theo ba phần : Luận Lý, Vật Lý và Luân Lý.
- Cũng như hai thuyết trên, điều chính yếu trong học thuyết khắc kỷ là phần Luân Lý. Hai phần trước chỉ là một nền tảng và chuẩn bị để đưa đến những kết luận về phương diện luân lý.
- Triết lý mang tính cách thực dụng, nhằm tìm được một sự bình thản (ataraxia) trong tâm hồn.
Tuy nhiên, cách thức của mỗi trường phái thì lại hết sức khác nhau. Với phái Khắc Kỷ, chúng ta kể một số đường nét chung như sau :
A. LUẬN LÝ
Khác với đường hướng của Platon, vốn cho rằng cần phải gạt bỏ hay vượt trên cái khả giác, các triết gia khắc kỷ cho rằng chân lý và sự hiểu biết chân lý nằm trong chính những tri giác thông thường mà mọi người đều có thể có được.
Tuy cùng là một thứ duy nghiệm như Aristote và xử dụng nhiều phạm trù tư tưởng của luận lý học hình thức, nhưng luận lý học của phái khắc kỷ cũng khác với luận lý học Aristote nhiều. Luận lý học của Aristote tìm cách xác định những thuộc từ cho một sự vật để đạt được bản chất cố định của sự vật. Nói cách khác, luận lý học của Aristote nhằm khảo sát sự vật như cái gì tĩnh, được chỉ đạo do quan niệm "chỉ có thể có khoa học về cái tổng quát". Luận lý học của Aristote là một thứ "luận lý học theo bản thể", nằm trong chủ thuyết "duy nghiệm bản thể"; lối nhìn đó muốn tạo nên được một nhận thức khách quan, nhưng đồng thời cũng dễ tạo nên một sự lưỡng phân giữa chủ thể và đối tượng. Các triết gia khắc kỷ lại có một mối ưu tư khác hẳn. Họ nhìn vũ trụ theo thế động, thiên nhiên hay vũ trụ này luôn biến chuyển linh động, tạo nên một sự hòa hợp trong những tương quan đối nghịch; điều này có lẽ xuất phát từ ảnh hưởng của Héraclite [1]. Do đó, việc thấu hiểu thiên nhiên của phái khắc kỷ lại không nhằm tạo nên tri thức bác học, nhưng để đưa con người vào trong sự hòa hợp với thiên nhiên. Do đó, luận lý học của phái khắc kỷ là một thứ "luận lý học theo tương quan" và nhằm thâm nhập, hòa hợp với vũ trụ thiên nhiên.
Cũng khác với những triết gia hoài nghi, phái khắc kỷ rất tin tưởng ở vào khả năng nhận thức của con người; họ cho rằng con người có thể lãnh hội được chân lý bằng giác quan. Sự vật thì luôn hiện diện ở đó; còn ta thì có những giác quan và còn có lý trí để hướng dẫn các giác quan này. Nếu ta biết dùng lý trí để kiểm soát những thu nhận của giác quan, thì chúng ta có thể có những nhận thức đúng đắn. Khi đó, hiểu biết chính là "hệ thống hóa" (systématisation) những tri giác thông thường để có được một kiến thức vững chắc.
Tóm lại, ta có thể nói luận lý học của các triết gia khắc kỷ là một thứ duy thực biện chứng; nghĩa là con người có khả năng biết được sự vật; biết được sự vật trong những tương quan của chúng với nhau; và trong tương quan với đời sống luân lý của con người.
1. Biểu tượng
Tiến trình nhận thức được Zénon mô tả gồm có 4 cấp độ:
- Nhận thức bắt đầu với biểu tượng (phantasia,la représentation). Biểu tượng không phải là sự tưởng tượng (phantastikon, l' imagination); tưởng tượng là khi không có một đối vật thực sự nào cả. Biểu tượng đây phải là một ấn tượng (une impression), tức là sự tái tạo trong tâm hồn một hình ảnh sự vật đúng thật như nó là; có nền tảng trên cái được biểu được (phantaston, le présenté). Cicéron định nghĩa "Biểu tượng là một ấn tựơng hình dung lại cái gì từ đó nó xã phát xuất và không thể biểu thị cái gì nó không từ đó mà phát xuất được" [2]. - Biểu tượng này còn mang tính khả giác, cần có một "tiên cảm" (anticipation) hay một tiền-ý-niệm hữu lý, được coi như một trực giác tổng quát về sự vật, để được nhận thức.- Để có chân lý, tiền-ý-niệm hữu lý phải trung thực, phù hợp với sự vật; đó là một "biểu tượng hiểu biết" (phantasia Kataleptiké / la représentation compréhensive); ở đây có nghĩa là một biểu tượng có thể tạo nên được một sự tiếp nhận, một tri giác. Zénon cho rằng "biểu tượng hiểu biết" là "một biểu tượng được in vào trong tâm hồn từ một đối tượng thật sự, phù hợp với đối tượng này và nó sẽ không hiện hữu nếu nó không đến từ một đối tượng thật sự".
- Nhờ lý trí can thiệp, bằng cách đối chiếu, tập hợp những tri giác rời rạc lành một cái gì liên tục; những người hiểu biết sẽ làm cho sự chắc chắn này được vững vàng và toàn diện hơn bằng sự đồng ý; đó là tri thức hay khoa học. Qua sự đồng ý này, lý tính của con người thuận theo thiên nhiên và nên giống với lý tính của Thượng Đế.
Zénon cũng dùng hình ảnh để mô tả những sự việc này như sau :
- Bàn tay phải mở rộng, những ngón tay chỉ thẳng; đó là biểu tượng;
- Bàn tay với những ngón tay hơi co lại, nửa khép nửa mở; đó là sự ưng thuận;
- Bàn tay hoàn toàn nắm lại; đó là là "biểu tượng được hiểu biết";
- Và bàn tay hoàn toàn khép lại, được bàn tay kia bao bọc, là tri thức khoa học; dành riêng cho người khôn ngoan.
Điều này chuẩn bị cho phần thiên nhiên học và luân lý, trong đó, con người khắc kỷ biệu lộ một mối "thiện cảm" với vạn vật và thuận theo qui luật của thiên nhiên.
2. Biện chứng
Công việc nhận thức của phái khắc kỷ như trên tạo nên một thứ biện chứng. Biện chứng pháp là "một đức tính bao hàm được mọi tính cách khác trong nó, đó là thái độ "thận trọng" (circonspection), biết công nhận khi nên và khi không nên; hoặc là sự sáng suốt (sagacité) tức khả năng dùng những chứng lý đối lập với những gì xem ra không xác thực để khỏi bị sa lầy..."
Lối biện chứng pháp này không nhằm vào sự vật cho bằng vào thái độ của con người. Do đó, biện chứng pháp khắc kỷ có hai tính chất chính yếu :
- Chỉ có những sự vật cá biệt, cụ thể mới thực sự hiện hữu thực sự; những ý niệm tổng quát chỉ là những danh từ, là sản phẩm của lý trí mà thôi. Đó là một lập trường "duy danh".
- Vì mọi sự đều là cá biệt, cho nên ta không thể khám phá một điểm tương đồng nào giữa các sự vật; ta chỉ có thể nhận thấy sự liên lạc giữa các sự vật mà thôi. Do đó, phái khắc kỷ không quan tâm đến luận lý như là cách thức nối kết những khái niệm với nhau (thí dụ : Socrate là người/ người thì phải chết...); nhưng là tìm cách khám phá sự liên lạc giữa các sự kiện với nhau. Cho nên, nhà khắc kỷ đề cao mệnh đề giả thuyết. Thí dụ "Nếu trời sáng, thì là ban ngày", ta nhận thấy một liên lạc giữa hai hiện tượng.
Triết gia khắc kỷ không phán đoán về nguyên nhân và hậu quả của một sự kiện, nhưng họ cho rằng, giữa hai hiện tượng, có một sự liên tục tất yếu. Đó là một sự trung thành với lập trường duy nghiệm, vì chỉ có kinh nghiệm mới cho ta biết, chẳng hạn, mối liên hệ giữa vết thương và cái chết của người lính; đồng thời đó cũng là một sự khẳng định về tính cách tất định của vũ trụ.
Ngoài ra, luận lý học khắc kỷ còn có phần bàn về bản chất của những mệnh đề, những hình thức khác nhau của những tam đoạn luận. Ở đây, người ta nhận thấy có nhiều ý tưởng độc đáo, khác biệt hẳn với luận lý học của Aristote.
Chú thích
[1] Encyclopédie universelle, Marabout, cho rằng đó là một nhận định sai lầm.
[2] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 424.