Bài 28: Épicure và học thuyết khoái lạc - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Tên gọi "Chủ Nghĩa Khoái Lạc" của học thuyết này đã làm cho nhiều người nghi kỵ. Có người tố cáo Épicure là con người sa đọa, vô đạo đức và dối trá; và học thuyết của ông là một thứ học thuyết đề cao lạc thú cách đê tiện. Nhưng thật ra, đời sống của Épicure, người sáng lập, thật gương mẫu; đó là một đời sống trong sạch và điều độ đúng như chủ trương của ông. Chính vì thế, các bạn bè của Épicure hết lời ca tụng và coi ông như một thần tượng cao cả.

28

ÉPICURE

VÀ HỌC THUYẾT KHOÁI LẠC

(Épicurisme)

Tên gọi "Chủ Nghĩa Khoái Lạc" của học thuyết này đã làm cho nhiều người nghi kỵ. Có người tố cáo Épicure là con người sa đọa, vô đạo đức và dối trá; và học thuyết của ông là một thứ học thuyết đề cao lạc thú cách đê tiện. Nhưng thật ra, đời sống của Épicure, người sáng lập, thật gương mẫu; đó là một đời sống trong sạch và điều độ đúng như chủ trương của ông. Chính vì thế, các bạn bè của Épicure hết lời ca tụng và coi ông như một thần tượng cao cả.

I. TIỀU SỬ ÉPICURE

Người ta biết được Épicure sinh vào năm 341, vào khoảng 7 năm sau khi Platon qua đời; nhưng không rõ ông sinh tại Athènes hay Samos. Dù sao, người ta biết được rằng vào năm 352, gia đình của ông sinh sống tại Samos. Thân phụ ông là một giáo viên tên Néoclès và thân mẫu là một người phụ nữ ưu thích những lễ hội cúng tế và thích xem bói. Người ta nói rằng, lúc còn trẻ, Épicure có dịp theo mẹ đi đến các nơi thờ cúng và cậu được chứng kiến những thái độ sống đầy mê tín của quần chúng và cũng bắt đầu suy nghĩ về những nguy cơ của những thói mê tín ấy [1]. Épicure là người không thích những chuyện viễn vông, xa xôi; lúc ông mới 12 tuổi, thầy giáo đọc cho ông nghe đoạn thi văn của Hésiode, tới câu "Thuở đầu, mọi sự đều phát xuất từ hỗn độn...", cậu ngắt lời : "Còn hỗn độn phát xuất từ đâu ?". Năm 14 tuổi, ông đã bắt đầu học triết lý.

Năm 323, Épicure đến Athènes; nhưng vì vua Perdiccas, người kế vị Alexandre Đại Đế vừa qua đời, ra lệnh trục xuất tất cả các kiều dân Athènes, nên năm sau đó, ông cùng với gia đình phải đến Colophon. Nơi đây, Épicure sống một đời sống chật vật. Đây là một kinh nghiệm đau thương [2] mà, có lẽ vì thế, ông có ý định tìm cách giải quyết vấn đề đau khổ của con người. Tại Colophon, Épicure được học triết với Nausiphanes, một đồ đệ của Démocrite. Với vị thầy này, ông học được một số lý thuyết để xây dựng nên phần vật lý của học thuyết Epicurisme sau này; nhưng ông cũng chê thầy là yếu mềm như loài sên.

Năm 311 Épicure đã lập được một trường phái của mình ở Mytilène, trong quần đảo Lesbos. Rồi năm 310 ông lại sang Lampsague và cũng sáng lập trường phái ở đây.

Năm 306, ông trở lại Athènes một lần nữa; mua được một khu vườn rộng lớn; rồi mở trường và dạy học tại đó. Người ta gọi trường phái Épicure là cộng đoàn Hoa Viên. Con số người theo Épicure gia tăng mau lẹ, gồm đủ mọi hạng người, cả những phụ nữ, kỹ nữ và nô lệ [3]. Épicure sống một đời sống an nhàn, đạm bạc; ông chăm sóc cây cối, không màng của cải và đối xử thân tình với bạn bè cũng như với học trò. Có lần ông viết : trong tất cả mọi điều giúp ta được hạnh phúc suốt đời, tình bạn là điều quan trọng nhất. Dù có nhiều bệnh ngặt nghèo và bị bại liệt trong những năm cuối đời, nhưng Épicure vẫn tiếp tục giảng dạy, và bao giờ cũng giữ được sự thanh thản.

Trong bức thư trước khi từ trần viết cho Iremée, Épicure trối lại ngôi trường cho Hermaque, người kế nghiệp, và tất cả đồ đệ sống trong trường để họ tiếp tục sống chung với nhau. Cộng đoàn Hoa Viên sống với châm ngôn "sống ẩn dật !"; họ không thích những tranh luận lý thuyết; mọi người đều muốn tìm sự an ổn tâm hồn, sống thân tình với nhau và hết sức ngưỡng mộ thầy của mình. Ông qua đời cách thanh thản vào năm 270. Môn đệ tôn kính ông như một vị thần, Lucrète víết : Deus ille fuit [V,7.].

II. TÁC PHẨM

Épicure đã viết nhiều tác phẩm, hơn 300 tập khái luận triết học, nhưng đã bị thất lạc hết; và khá nhiều thư từ mà Herculanum đã tìm thấy được một số. Nói chung, muốn biết về Épicure, người ta phải căn cứ vào một số tài liệu khác như :

- Lucrète : De rerum natura

- Cicéron : De Finibus bonorum et malorum

- Diogène Laerce : La Vie de Épicure.

III. TƯ TƯỞNG

Tư tưởng của học phái Épicure khá đồng nhất và sớm hoàn bị, khác với học thuyết Khắc Kỷ vốn có một tiến trình lâu dài trong lịch sử. Lý do là vì các môn sinh rất tôn trọng Épicure.

Épicure quan niệm triết học là một nghệ thuật nhằm giúp con người sống hạnh phúc; mục đích chính của triết học là giúp người ta tìm được sự thanh thản (ataraxia). Cũng như các trường phái sau-aristote, triết học Épicure gồm có ba phần : qui tắc học [luận lý], vật lý và luân lý. Qui tắc và vật lý là hai môn phụ [4], nhằm phá tan những thắc mắc lo âu và giúp con người sống an tâm.

3.1. Luân lý

Lý tưởng của học thuyết Épicure nhằm tới đời sống thanh thản [Ataraxia], bằng cách phân định khoái lạc cho chính xác. Épicure tìm thấy những nền tảng cho cảm nhận khoái lạc một cách khá “thật” và khá thuyết phục; hơn nữa, từ nền tảng ấy, ông còn có thể gắn liền khoái lạc với nhân đức. Diogène Laerce mô tả:

Để chứng minh cho chủ thuyết của mình, theo đó, khoái lạc là mục đích, Épicure lấy sự kiện là các sinh vật, trong chính hiện hữu của mình, do tự bản chất và không cần một lý luận nào, luôn tìm kiếm khoái lạc và tránh khó nhọc. Do đó, khi tuân theo cảm nhận bẩm sinh, chúng ta trốn tránh đau khổ... Cũng thế, chính để tìm khoái lạc mà người ta lựa chọn nhân đức, cũng như người ta lựa chọn phương thuốc vì sức khoẻ... Đối với Épicure, ông tin chắc rằng chỉ có nhân đức là không thể tách rời khỏi khoái lạc [5]

Như vậy, Épicure đề cao sự trở về với bản tính con người, trở về với những kinh nghiệm tự nhiên và hồn nhiên của cuộc sống. Với kinh nghiệm đó, Épicure có thể xác tín rằng nhân đức và khoái lạc gắn liền với nhau vì cùng là điều tự nhiên.

Rồi từ qui luật luân lý tự nhiên phát xuất từ khoái lạc, Épicure cho thấy người khôn ngoan phải biết tính toán những khoái lạc và những đau khổ đi kèm theo sau khoái lạc. Do đó, Épicure phân biệt nhiều loại khoái lạc :

Trong số các khái lạc, có những khoái lạc tự nhiên và những khoái lạc vô ích. Trong những khoái lạc tự nhiên, lại có khoái lạc cần thiết và những khoái lạc khác chỉ là tự nhiên mà thôi [tức không cần thiết]. Sau cùng, trong số những khoái lạc cần thiết lại có khoái lạc cần thiết cho hạnh phúc, những khoái lạc khác cần thiết để thân xác được yên ổn, và những khoái lạc cần thiết cho chính cuộc sống. Một suy tư chính xác về những khoái lạc sẽ giúp ta biết cách đưa tất cả chọn lựa và mọi oán ghét đến cho sức khỏe của thân xác và sự an tĩnh của tâm hồn; bởi vì, chính đó là mục đích của đời sống hạnh phúc; bởi vì tất cả những gì chúng ta làm, thì chúng ta làm nhằm để không phải chịu đau khổ và không bị bấn loạn...
Chính vì thế mà chúng ta nói rằng khoái lạc là khởi đầu và là cùng ích của đời sống hạnh phúc. Bởi vì chúng ta nhận định rằng chính khoái lạc là sự thiện đầu tiên và thân thuộc với hữu thể của chúng ta; và dựa vào khoái lạc mà chúng ta lựa chọn hoặc từ chối bất cứ sự gì, và chính nơi khoái lạc mà chúng ta có thể chọn lựa như nguyên tắc, trong khi phân biện mọi sự thiện hảo nhờ cảm giác. Chính bởi vì khoái lạc là sự thiện đầu tiên và tự nhiên mà chúng ta không chấp nhận khoái lạc đầu tiên đến với chúng ta, nhưng ngược lại, chúng ta bỏ qua nhiều khoái lạc, khi mà một số lớn hơn những đau khổ theo sau dành cho chúng ta; đàng khác có một số đau khổ lại thích hợp với chúng ta hơn khoái lạc, khi chúng dành sẵn cho chúng ta một số khoái lạc lớn hơn...[6]

Những lý chứng của Épicure vừa giúp ông tránh được một chủ nghĩa khoái lạc đồi trụy và giả tạo, vừa tránh được một nền luân lý áp đặt do một hệ thống tư tưởng nào xa lạ. Épicure trung thành với cảm quan tự nhiên và có lẽ cũng là cảm nhận chân thật của nhiều người mà phần lớn người ta không dám tỏ bầy một cách thẳng thắn, vì sự ám ảnh của một nền luân lý nào đó.

Phải công nhận rằng, bằng một vài suy tư, Épicure đã như vượt qua được một vực thẳm úy kỵ muôn đời của nhân loại, vực thẳm luân lý, một vực thẳm “kép”. Một đàng, ông vượt qua được mọi thứ luân lý áp đặt, trong đó luôn có nhiều điều giả tạo, được tạo ra vì một sự úy kỵ kỳ lạ và sâu xa trong bản chất con người; đàng khác ông cũng vượt qua được thái độ phóng túng, trụy lạc, vốn là một vực thẳm khác luôn chờ sẵn để bẫy những kẻ không đủ bản lãnh. Đó quả thật là một bước nhẩy vĩ đại mà ta có thể so sánh, phần nào, với bước nhẩy từ chế độ lề luật sang chế độ ân sủng mà Thánh Phaolô đã trinh bầy trong thư Galat [7].

Tuy nhiên, để hoàn thành một nền “luân lý khoái lạc”, Épicure còn phải vượt qua những rặng núi cao ngất, vốn cũng là những thách thức muôn đời của nhân loại : nôi sợ chết, sợ thần thánh và sợ số phận. Épicure sẽ phải làm điều 1ây trong phần Qui Tắc Học, và nhất là trong phân Vật Lý Học.

3.2. Qui Tắc Học

Epicure gọi phần luận lý của ông là Qui Tắc Học (canonique). Đây là một thứ Tiêu Chuẩn Học nhằm đề ra những tiêu chuẩn căn bản nhất để có thể phân biệt chân giả. Nói chung, tinh thần của Épicure hoàn toàn khác với Platon, vốn đòi hỏi phải vượt lên cảm giác để tìm tới những ý niệm khả tri; tinh thần đó cũng khác với Aristote, luôn muốn tìm thấy những khái niệm tổng quát và thiết lập những tương quan luận lý của những khái niệm đó. Épicure bỏ hết những diễn từ trừu tượng, những định nghĩa tổng quát, nhưng suy tư về sự "Thiện tự thân”... Về điểm này, Epicure khá giống với những người khắc kỷ. Tuy nhiên, Épicure cũng chẳng tìm chân lý nơi một “vũ trụ toàn thể” nào như những người khắc kỷ.

Nguyên tắc căn bản của triết học Epicure là : chỉ tin vào giác quan, nghĩa là nhờ những giao tiếp cụ thể, "hiện sinh" với chính sự vật.

Épicure đặt tiêu chuẩn chân lý ở nơi những sự vật, những sự vật được đón nhận bằng cảm giác; chỉ có những giao tiếp cụ thể ấy mới có giá trị và tạo nên những khoái lạc cụ thể, trong một tình cảm cụ thể, cá nhân, và bất khả thông đạt. Với Épicure, cá nhân là chủ thể duy nhất có thể nhận thức cũng như cảm nhận hạnh phúc.

Ông không có ước vọng tìm trong thiên nhiên những điều gì bí ẩn núp ở bên dưới, như thể có điều gì huyền nhiệm hay một chủ đích siêu việt nào. Tiêu chuẩn học của Épicure chỉ muốn “đối chiếu từ ngữ với sự vật” và ”như thế, chúng ta khỏi phải tranh luận triền miên một cách vô hiệu quả, và xử dụng những từ ngữ trống rỗng".

Chính vì thế, Cicéron, trong cuốn De Finibus, đã viết về Épicure như sau : "Ông ta đã loại trừ những định nghĩa; ông không dạy gì về sự phân chia và chi phối, cũng không nói gì về cách thức lập luận để đi tới những kết luận thế nào. Ông cũng không chứng minh rằng: những ngụy biện lý có thể bị lộ tẩy và những hàm hồ lý có thể bị đánh tiêu tan như thế nào cả" [8]. Còn Plutarque thì nói : Épicure cũng không biết một tam đoạn luận có phải gồm ba mệnh đề hay không.

Épicure nêu ra ba “tiêu chuẩn” để hình thành nên nền luận lý duy cảm như sau :

a/ Cảm giác (aisthêsis)

Cảm giác là tác động của ngoại giới lên giác quan của con người. Tự nó, cảm giác có tính cách hiển nhiên và không sai lầm. Ngay cả với trường hợp những người bị khiếm khuyết khả năng cảm thụ trực tiếp [mù, điếc...] Épicure cũng giải thích rằng sự vật có một thứ “hơi xông ra” [effluves], hoặc một thứ “giả tượng” [simulacres] nào đó lan truyền và tác động vào những giác quan tương ứng. Cảm giác không phải là điều gì chủ quan, nó luôn luôn là chân thật. Nếu như, nhìn từ xa, một cái tháp vuông có vẻ như tròn, thì dáng vẻ này phản ảnh khách quan mối liên hệ vật lý giữa đối tượng, cơ quan cảm giác của ta và môi trường vật chất nằm giữa hai điều ấy.

Tuy nhiên, Épicure không chủ trương một thứ duy vật theo kiểu khoa học. Ông cho rằng "phải đi từ sự vật thấy được để thấu hiểu sự vật không thấy được" [J. Chevalier]. Như thế, lập trường của Épicure cũng khác với chủ thuyết hoài nghi.

b/ "Tiền Dự " (prolêpsis)

Épicure coi cảm giác là nền tảng của mọi nhận thức; nhưng ông cũng không giản lược hoàn toàn nhận thức vào một tiến trình vật lý giữa sự vật và giác quan. Épicure nhắc lại lý thuyết Hồi Tưởng của Platon trong cuốn Ménon và ghi nhận rằng chúng ta không thể nhận bíết được sự vật, thậm chí không thể biết tên một sự vật nào, nếu không có một "tiền dự" [anticipation] nào đó về hình thức của chúng. “Tiền dự” là những dữ kiện do cảm giác để lại; dữ kiện đó giúp con người có thể định hình cho những cảm giác mới. Những tiền dự này, Épicure gọi là prolêpsis. Sau này Kant sẽ thấy nơi đây như là một sự báo trước cho học thuyết "tiên nghiệm" của mình. Nhưng điều ấy không đúng, vì đối với Épicure, tiền dự xuất phát do nhớ lại những cảm giác trước đây chứ không phải là những “hình thức” hay những phạm trù tiên thiên như của Kant.

Épicure không cho biết làm sao có thể thíết lập được cảm nhận đầu tiên về một đối tượng, vì khi đó không có một tiền dự đi trước nào cả.

c/ Cảm xúc (pathê)

Cảm xúc là hiệu quả của mối liên lạc giữa chủ thể và đối tượng. Khi có sự xứng hợp giữa cảm giác với bản tính con người, ta tìm được cảm xúc khoái lạc; ngược lại, đau khổ chính là sự không am hợp giữa nội tâm và ngoại giới.

Những nguyên tắc luận lý học cảm giác ấy được Épicure áp dụng vào vấn đề tìm hiểu vũ trụ, với chủ ý giúp con người thoát khỏi cơn bịnh sợ Thần Thánh và sợ chết.

3.3. Vật Lý Học

Phần Vật Lý của Epicure là một sự vay mượn của thuyết Nguyên Tử nơi Démocrite và Leucippe. Tuy nhiên, ông cũng thêm vào một vài thay đổi không phải không quan trọng.

3.2.1 Vũ trụ

Épicure đồng ý với Parménide rằng không có gì từ hư vô mà ra cả; như thế, vũ trụ là vĩnh cửu và duy nhất. Épicure cũng đồng ý Démocrite rằng không có một thực tại nào khác ngoài vũ trụ “vật chất” [9]; vũ trụ được cấu tạo do những nguyên tử đơn thuần, vĩnh cửu, và luôn chuyển động trong khoảng không....

Tuy nhiên, ông đưa thêm hai điểm mới cho học thuyết nguyên tử :

a/ Các nguyên tử đều có trọng lượng; chúng mãi mãi rơi đều, song song với nhau và với tốc độ bằng nhau. Ông còn cho rằng tốc độ rơi của các nguyên tử bằng với tốc độ của tư tưởng.

b/ Thay vì tính chất tất yếu của Démocrite, Épicure đưa vào tính chất ngẫu nhiên. Ông cho rằng nếu các nguyên tử gặp được nhau để kết hợp thành các sự vật khác nhau, thì nhất thiết phải có một sự “trệch hướng” nào đó; nghĩa là phải có một vài nguyên tử không rơi thẳng nhưng đi lệch (clinamen) với một góc rất nhỏ. Khi ấy, nếu là nguyên tử trơn, chúng sẽ lại tưng lên; nếu là nguyên tử có góc cạnh, nó sẽ dính vào nhau thành những tổ hợp. Hợp thể to lớn nhất tức là vũ trụ.

Chính nhờ tính chất “đi lệch” hướng như thế, Épicure có thể giải thích được vấn đề tự do. Diogène d’ OEnoan cho thấy rõ chủ trương của Épicure nhằm chống lại Démocrite:

Anh không biết sao, dù anh là ai đi nữa [hỏi một nhân vật tưởng tượng theo học thuyết của Démocrite] có một chuyển động tự do nào đó trong các nguyên tử, điều mà Démocrite đã không khám phá ra, nhưng Épicure đã làm sáng tỏ; đó là một chuyển động trệch hướng, như ông đã chỉ ra khi khởi đi từ những gì xuất hiện [10]

Như thế, Épicure cho rằng ngay trong lãnh vực nguyên tử cũng có tự do, không phải tự do được bảo đảm nhờ tính chất trệch hướng này, nhưng chính sự trệch hướng đã là tự do. Từ đó tính chất ấy, Épicure có thể khẳng định một hệ luận hết sức quan trọng trong hệ thống của mình : con người không phải sợ định mệnh nữa. Có lẽ đây là điểm chính yếu mà Épicure muốn giải thoát cho con người, chống lại với sự tất yếu của định mệnh trong học thuyết Khắc Kỷ; vì chính nỗi ám ảnh của định mệnh là nguyên nhân đè bẹp tự do của con người. Diogène Laerce cho thấy con người còn có thể hoà giải với thần thánh nhờ nghi lễ phượng tự; nhưng với định mệnh thì không có vấn đề hoà giải [11].

3.2.2 Linh hồn

Linh hồn chỉ là một dòng nguyên tử tinh vi và trơn. Những nguyên tử này, khi tập trung nơi ngực, thì được gọi là “Trí” {intellect/noũs} ; khi lan tỏa khắp thân thể, đó là “Hồn” {Âme/psyché}. Những hình ảnh bên ngoài sẽ tác động và làm cho các nguyên tử “hồn” chuyển động, khi đó ta có cảm giác; cũng thế, những giả tượng lan truyền từ sự vật làm nên những những dòng chảy của nguyên tử và để lại nơi chúng ta những ấn ảnh.

Học thuyết duy vật này cũng nhằm giải thoát con người khỏi nỗi sợ chết, vì Hồn sẽ tiêu tan cùng với xác; và sự tiêu tan của hồn cũng chấm dứt hết mọi cảm gíác, và không còn đau khổ. Như thế, sự chết không phải là một sự dữ.

Hãy tập nghĩ rằng sự chết không là gì đối với chúng ta. Bởi vì sự lành và sự dữ chỉ hiện hữu trong cảm gíác, và cái chết là sự tiêu tan của cảm giác. Từ đó, sự hiểu biết đúng đắn về sự kiện cái chết không là gì với chúng ta, đó là bíết nó cho phép chúng ta vui hưởng cuộc sống hay chết này, không phải bằng cách thêm vào một thời gian bất tận nào, nhưng bằng cách vất đi sự nuối tiếc về đời sống bất tử. Bởi vì không có gì đáng sợ trong cuộc sống đối với ai hiểu rằng chẳng có gì là đáng sợ đối với sự kiện không còn sống nữa. Ai tuyên bố sợ chết không phải bởi vì cái chết xẩy đến như một sự dữ, nhưng bởi vì nó là một điều đáng sợ mà ta phải chờ đợi, thì đó là một kẻ ngu dại

[Diogène Laerce, Lettre à Ménécée, X, 124, 125; trích lại trong P.B. Grenet, Sđd, trang 294].

3.2.3 Thần Thánh

Người ta thường nói quá về thài độ chống tôn giáo của Epicure, như thể mục tiêu của ông là giải thoát con người khỏi tôn gíáo là một sự dữ căn bản. Có người còn coi Épicure như là một ông hoàng của chủ nghĩa vô thần. Nhưng thực ra, Épicure là một người có tinh thần tôn giáo. Ông rao giảng tôn giáo và thành thật tin nơi Thần Thánh. Điều mà Épicure muốn giải thoát khỏi con người không phải là tôn giáo mà là một thứ mê tín, hiểu như là một nỗi sợ hãi vô căn cứ cắn rứt tâm hồn con người.

Trước hết, theo học phái Épicure, vấn đề thần thánh hiện hữu là điều hiển nhiên mà ta có thể nhận thức một cách đơn giản : “Chúng ta biết được thần thánh do một sự chiêm ngắm trực tiếp. Theo nghĩa là từ nơi các thần lan tỏa ra những hình ảnh tinh tế, chúng in trực tiếp vào tinh thần chúng ta và tạo nên nơi đây một “quan niệm tổng quát” về Thần” [Festugière]. Chính các quan niệm này là những “tiền dự” để dạy chúng ta về bản chất thần thánh. Bản chất đó là : “bất tử” và “hạnh phúc”.

Nhưng điều chính yếu làm nên hạnh phúc là vắng bóng mọi sự bối rối, lo âu và luôn luôn thanh thản. Do đó, không thể nào quan niệm thần thánh vừa hoàn hảo trong sự bất tử và hạnh phúc lại vừa phải điều khiển muôn vật, sắp xếp các chuyển động của tinh tú; hoặc quan tâm đến những chuyện của con người..... Thần Thánh không dính dáng gì đến thế giới của chúng ta, các ngài sống yên hàn trong “thiên giới” [intermondes]

Kết luận của quan niệm này là : con người không phải lo âu gì đến sự trừng phạt của Thần thánh cả; và người khôn ngoan chính là người biết sống như Thần Thánh, sống giản dị, từ chối mọi của cải, xa lánh thế gian, không quan tâm đến chính trị và bầt cứ một công việc bận rộn nào...

Như thế, còn có điều gì làm cho con người phải sợ hãi thần thánh nữa ? Trong cuộc sống này, con người không bị Thần Thánh trừng phạt; còn sau cuộc sống này, con người không còn gì để phải chịu hình phạt cả.

***

Như thế, người sống theo tinh thần Epicure không phải là nhửng kẻ chơi bời trụy lạc, như kiểu Horatius đã nói: "Épicuri de grege porcus". Épicure đã quả quyết: "Khi ta nói rằng: khoái lạc là mục đích, ta không có ý hiểu là khoái lạc của đám người vui chơi trụy lạc. Ta nhắm lạc thú của một thân xác khỏe mạnh và một tâm hồn an tịnh. Chè chén say sưa, vui chơi trai gái, cá thịt đầy bàn không thể tạo nên một cuộc đời hạnh phúc..."

Cuộc sống theo chủ thuyết Épicurisme là cuộc sống đầy tràn sự tự do tâm hồn. Người hiền triết theo Epicure là người sống vô chủ (adespotos), nghĩa là không lệ thuộc vào ngoại giới; và sống tự chủ (autarkeia). Kẻ đó không lệ thuộc vào thế sự, không để cho điều gì làm bấn loạn. Đó là những người sống như thần thánh, không phải bận lòng lo toan chuyện gì cả, sống ẩn dật, vui hưởng đời sống an nhàn và hết sức đề cao tình bạn. Épicure cho rằng bạn hữu là một nguồn hạnh phúc quan trọng nhất. Người hiền triết có thể vì tình bạn, dám hy sinh cả mạng sống mình nữa !

Cuộc sống kiểu Épicure quả thật có nhiều điều hấp dẫn. Học thuyết của ông được nhiều nhà tri thức tin tưởng, các hoàng đế bảo vệ; phần lớn các vị này thường khinh dể học thuyết Khắc Kỷ. Những nhân vật chính của trường phái Épicure là Apollodore [thế kỷ II] và Lucrète [t;k I].

KẾT

Điều rất đáng trân trọng trong học thuyết Épicure, có lẽ, là tính chất giải thoát của nó. Chính quan niệm nhân sinh tự do, vui tươi của Épicure thực sự là một quyết rũ lớn đối với những nhà tri thức.

Nhưng thật ra, chính đời sống của Épicure lại là một sự phản đối tư tưởng của mình. Chủ trương sống tự lập, nhưng ông lại cần tới tình bạn; chủ trương sống lãnh đạm, nhưng ông lại dành thời giờ soạn hơn 300 tập khảo luận, và khá nhiều thư từ mà Herculanum đã tìm thấy được một số. Người ta mừng vì Épicure đã không “sống như thần thánh”, theo chủ thuyết của ông !

Tuy nhiên, có một điều hết sức thực tế mà học thuyết Épicure không thể chối bỏ : cuộc đời này không hoàn toàn hợp lý và xuôi xắn, đơn giản như Épicure tưởng. Và như thế, điều rất đáng ngờ của chủ thuyết này, là làm sao người ta vừa hết sức mưu cầu sự thanh thản cho mình mà lại không sa vào một sự ích kỷ sâu xa, một sự ích kỷ không kém đồi trụy, và làm suy đồi bản chất tự nhiên, hồn nhiên của con người ?

Chú thích

[1] B. Russell cho rằng truyền thuyết ấy có lẽ do những người khắc kỷ, chống Épicure, tạo ra.

[2] Có người ông vì đời sống khổ sở, Épicure đâm ra thù oán các thần thánh, chẳng muốn tin vào những lời nguyện cầu, và luôn muốn tìm những phương thế hữu lý hơn, hiệu nghiệm hơn. Điều này có lẽ không đúng, vì thực ra Épicure có một tâm hồn tôn giáo.

[3] Pierre Aubenque lại cho rằng, so với Học phái Khăc kỷ, Épicure ít chọn môn đệ trong từng lớp bình dân, mà thường chọn người trong tầng lớp trung lưu bị thất thế vì thời cuộc; tức những người có nhu cầu tìm triết lý như một phương thuốc để khỏi ưu sầu.. Tập I trong bộ Histoire de la Philosophie, Idées, doctrines; sous la direction de Francois Chatelet, 8 tập, Hachette, trang 20.

[4] P. Aubenque,Sd, nói rằng khẳng định như thế là bất công vì Epicure cũng là tác giả củamột tác phẩm lớn nhan đề "Sur la Nature" mà người ta chỉ còn giữ được vài đoạn trên mảnh giấu papyrus của Herculanum; và Lucrète ca tụng Epicure như người sáng lập ra hệ thống triết h5oc về thiên nhiên, Sđd, trang 207.

[5] Diogène Laerce,X, 137,138.

[6] Diogène Laerce, trich trong Lettre à Ménécée, X, 128-129]; trích lại trong P.B. Grenet, Sd, trang 290.

[7] Xc, Gl 2,15 - 4,31...

[8] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 395.

[9] P.B. Grenet ghi nhận rằng, từ sau Platon và Aristote, người ta không còn có thể chủ trương duy vật cách đơn giản, nhưng phải “chống chọi” với những khẳng định về tinh thần; Sđd, trang 292-293.

[10] Diogène d’ Oenoanda, tản văn XXXIII, trích lại trong P.B. Grenet, Sđd, trang 293.

[11] Xc. Diogène Laerce, Lettre à Ménécé, X,134. Trích lại trong P.B.Grenet, Sđd, trang 293 : "Thà chấp nhận huyền thoại về các vị Thần còn hơn là trở nên nô lệ cho định mạng của các nhà lý học. Bởi vì, huyền thoại còn cho ta hy vọng làm đẹp lòng Thần Thánh bằng việc cúng tế; trái lại, định mạng là một sự tất yếu vô vọng"

Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P1) >>