Bài 26: Triết học sau Hy Lạp - Aristote - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
I. "THỜI KỲ SUY TÀN ?" Đây là giai đoạn thứ ba trong thời kỳ triết Học Thượng Cổ. Giai đoạn này thường được coi là giai đoạn suy tàn và ít có giá trị như thời khai nguyên và thời Hoàng Kim. Thời kỳ này không có được một triết gia nào có thể tạo nên một nền tảng siêu hình lớn và có ảnh hưởng sâu rộng; họ chỉ tìm áp dụng những nền tảng siêu hình của những người đi trước vào trong các lãnh vực cụ thể của cuộc sống. Nói chung suy tư của họ như một kỹ thuật sống nhiều hơn là nỗ lực tìm đến chân lý ngọn nguồn.
PHẦN III
THỜI KỲ SUY THOÁI
26
TRIẾT HỌC HY LẠP SAU - ARISTOTE
I. "THỜI KỲ SUY TÀN ?"
Đây là giai đoạn thứ ba trong thời kỳ triết Học Thượng Cổ. Giai đoạn này thường được coi là giai đoạn suy tàn và ít có giá trị như thời khai nguyên và thời Hoàng Kim. Thời kỳ này không có được một triết gia nào có thể tạo nên một nền tảng siêu hình lớn và có ảnh hưởng sâu rộng; họ chỉ tìm áp dụng những nền tảng siêu hình của những người đi trước vào trong các lãnh vực cụ thể của cuộc sống. Nói chung suy tư của họ như một kỹ thuật sống nhiều hơn là nỗ lực tìm đến chân lý ngọn nguồn.
Người ta cho rằng, sau những nỗ lực tuyệt đỉnh của suy tư triết học với Platon à Aristote, sinh lực của triết học Hy lạp như thể mệt mỏi và hết sinh lực [1]. Những triết gia đến sau Aristote không còn đủ tinh thần để đi vào con đường triết học cao thâm nữa. Chẳng hạn Théophraste, người kế tục Aristote tại trường Le Lycée, lại chỉ có năng khiếu vì thiên nhiên học hơn là siêu hình học.
Quả thật không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của Socrate, Platon và Aristote trong dòng lịch sử triết học tây phương. Tuy nhiên, khi khẳng định thời đại sau đó là "thời đại suy tàn" thì người ta phải chấp nhận một tiêu chuẩn để xác định một triết gia lớn: đó là triết gia tạo được một hệ thống siêu hình, làm nền tảng cho nhiều hệ thống triết lý. Điều đó rất đúng nếu chúng ta chìm toàn bộ dòng lịch sử triết học. Nhưng nếu chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh riêng biệt của thời đại sau-Aristote, thì những suy tư trợ giúp cho cuộc sống cụ thể trong thời kỳ lại là điều đúng đắn nhất và cần thiết nhất...
II. HOÀN CẢNH
Thời gian từ thế kỷ thứ III tcn đến thế kỷ thứ II scn chia làm hai giai đoạn :
a/ Giai đoạn văn hóa Hy lạp (Hélénisme)
Giai đoạn này bắt đầu từ năm 323tcn, năm Alexandre Đại Đế băng hà (hoặc năm 322 năm Aristote qua đời) cho đến năm 146 trước kỷ nguyên, năm Rôma xâm chiếm Hy lạp.
Alexandre Đại Đế, trong một thời gian ngắn, đã thu phục được một đế quốc rộng lớn. Alexandre, trong công cuộc mở rộng đế quốc của mình, cũng đã mang nền văn hóa Hy Lạp gieo vãi đi khắp nơi. Những giá trị của nền văn hóa Hy lạp như lòng yêu mến tự do, lòng yêu mến quốc gia,... lan rộng khắp nơi. Sự kiện này làm cho nền văn hóa Hy lạp trở thành giá trị của thời đại. Do đó, người ta cũng thường gọi thời này là thời kỳ văn hóa Hy lạp. Trung tâm của nền văn hóa này không còn chỉ là Athènes nữa mà còn Pergame, Rhodes và nhất là Alexandrie ở Ai Cập. Tại Alexandrie, đời sống trí thức được nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, có phòng thí nghiệm có thảo cầm viên và có một thư viện lớn.
Tuy nhiên, những chung đụng về văn hóa với các dân tộc khác nhau trong đế quốc không khỏi làm thay đổi tính chất truyền thống Hy lạp. Có lẽ khuynh hướng triết học thực tiễn của Phương Đông [2] đã ảnh hưởng tới tinh thần suy lý trừu tượng của người Hy lạp; họ đề cao cuộc sống nhân sinh, tìm sự thanh thản tâm hồn và hoài nghi khả năng của lý trí. Mặt khác, trước những biến động về chính trị trên thế giới, triết gia có khuynh hướng siêu thoát, tìm phương cách để sống an bình, vượt trên dòng thế sự bấp bênh. Vì thế, triết học trong thời kỳ này được mệnh danh là thời kỳ chuyển tiếp luân lý.
b/ Giai đoạn văn hóa Hy-La
Giai đoạn này bắt đầu từ năm 146 tcn, năm Rôma xâm chiếm Hy lạp cho đến năm 529, năm chấm dứt thời kỳ triết học Thượng Cổ. Ban đầu, giới trí thức Roma cũng niềm nở tiếp nhận văn hóa Hy lạp, nhưng rồi có một số trở ngại trong giới trí thức thủ cựu. Dưới đời bạo vương Nêrô, những nhà hiền triết là những người không được sủng ái. Tuy nhiên, dần dần, triết học tìm được uy tín nhờ bắt tay với chính quyền. Hoàng đế Marcus Aurelius (121-188) ban nhiều điều kiện thuận lợi, cho mở trường học. Cho tới năm 529 cn, Hoàng đế Justinien ra lịnh đóng cửa các học đường ở Athènes; và đây là biến cố chấm dứt thời kỳ triết học Thượng Cổ.
Trong thời kỳ này, triết học càng ngày càng ngày về khuynh hương thần bí và huyền học. Người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn chuyển tiếp thần bí.
III. ĐẶC ĐIỂM
Trong hoàn cảnh đó, các học phái trong thời kỳ này có những mối quan tâm giống nhau, tuy cách thức giải quyết có vẻ khác nhau hay đối nghịch nhau. Nét chung của kỳ này là một nền triết học thực tiễn.
Thời thế không còn tạo điều kiện để có những suy tư "vô vị lợi" như trước đây, các triết gia thời kỳ này không còn quá lý tưởng như Platon, hay sống với đam mê của nhà bác học như Aristote. Những vấn đề vũ trụ biến chuyển, lòng khao khát chiêm niệm thế giới Ý Tưởng, tinh thần ham hiểu biết, tinh thần khoa học... đều là chuyện xa vời. Suy tư của các triết gia thời kỳ này chỉ nhằm giải đáp cho cuộc sống thực tiễn, bằng những phương cách cũng thực tiễn hơn nhiều, so với Platon và Aristote. Họ chỉ muốn đi tìm hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, và đề ra những hướng dẫn cụ thể, với những phương pháp tương đối rõ ràng, đơn giản, dễ thực hiện. Có thể nói đường nét chung của những giải pháp triết học này đều mang tính cách chủ quan và cá nhân chủ nghĩa. Đúng như Aristippe, người sáng lập học phái Cyrénaique, đã nói : "Những khoa học thuần túy, như toán học, không ích lợi gì cả, vì chúng không nói tới sự thiện cũng không nói tới sự ác"[3].
Tuy nhiên, nhìn theo một nhãn quan khác, người ta cũng có thể coi triết học thời này là một sự trở về với lý tưởng nguyên thủy của Socrate, theo đó chính đời sống của con người mới là vấn đề chính yếu của triết học mà thôi.
Chú thích
[1] Charles Werger nhận định như vậy; Xc. Lê Tôn Nghiêm, sđd trang...
[2] Bertrand Russell ghi lại một sự kiện cho thấy ảnh hưởng của Phật Giáo đối với triết học Hy Lạp; Xc. Lê Tôn Nghiêm Sđd, trang 381.
[3] Trích lại trong Lê tôn Nghiêm, sđd, trang 380.