Bài 25: Các triết gia Socrate-nhỏ - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Ngoài Platon và Aristote, hai dòng triết học lớn phát xuất từ Socrate trong dòng lịch sử, còn có những môn đệ khác của Socrate mà học thuyết không gây nên ảnh hưởng lớn lao lắm. Người ta gọi đây là những triết gia Socrate-nhỏ (les petits-socratiques).

25

CÁC TRIẾT GIA SOCRATE-NHỎ

Ngoài Platon và Aristote, hai dòng triết học lớn phát xuất từ Socrate trong dòng lịch sử, còn có những môn đệ khác của Socrate mà học thuyết không gây nên ảnh hưởng lớn lao lắm. Người ta gọi đây là những triết gia Socrate-nhỏ (les petits-socratiques).

I. HỌC PHÁI CYRÉNAIïQUE

Người sáng lập học phái này là Aristippe de Cyrène (+360), một người bạn thân của Socrate. Vài triết gia có tiếng tăm hơn trong trường phái này là : Théodore, Hégésias, Anniceris.

Các triết gia thuộc học phái này giữ lại tính cách thực tiễn của triết học trong tư tưởng Socrate; họ cho rằng các môn vật lý, toán học là vô ích vì không không mang lại cho ta hạnh phúc. Chịu ảnh hưởng của Protagoras, họ thêm vào khuynh hướng thực tiễn này ý tưởng : cảm giác là tiêu chuẩn của sự thật, ngay cả trong lãnh vực hành động.

Nhưng bởi vì điều thiện được giác quan cảm nhận chính là khoái lạc, nên học thuyết này đi đến học thuyết khoái cảm (hédonisme). Tuy vậy, đây không phải là một thứ khoái lạc chủ nghĩa thô sơ; họ cho rằng cần phải biết khôn ngoan, tức biết chịu đựng để hưởng khoái lạc. Hơn nữa, mặc dù mọi khoái lạc đều tốt, nhưng vẫn có một trật tự giá trị giữa các khoái lạc. Do đó, cần biết cách thức để hưởng khoái lạc, đó là : làm chủ sự khoái lạc chứ không phải để cho sự khoái lạc làm chủ mình.

Không đồng ý với lập trường của phái Khuyển Nho , phái Cyrénaique cho rằng cần phải biết làm chủ khoái lạc chứ không phải là chạy trốn nó.

Aristippe nói:

Người nào kiềm chế đựơc khoái cảm không phải là người chỉ xa lánh nó, mà là người sử dụng nó mà không bị nó lôi cuốn đi : không khác gì một hoa tiêu trên con tầu hay người cầm cương ngựa, không phải là người không sử dụng chúng nhưng là người dẫn dắt, hướng dẫn chúng tùy theo ý muốn của mình [1]

Truyền thuyết kể rằng Aristippe bỏ bê gia đình để đeo đuổi một tình nhân. Khi bị người ta chê trách, ông trả lời : Chính tôi chiếm hữu nó, chứ không phải nó chiếm hữu tôi.

Tuy nhiên, từ học thuyết Khoái Lạc đó, Hégésias lại rút ra một kết luận thật là bi quan. Theo ông, hạnh phúc chỉ có ở một khoái cảm; nhưng khoái cảm chỉ có trong chốc lát, không một khoái cảm nào bền bỉ cả. Như vậy, chỉ còn một cách là tự vẫn.

Học phái này là nguồn gốc của thuyết Khoái Lạc của Épicure.

II. HỌC PHÁI CYNISME (KHUYỂN NHO)

Người lãnh đạo học phái này là Antisthène (436-366); với một số triết gia nổi tiếng hơn là : Hipparque, Métrocle, Cratès de Thèbes; và nhất là Diogène.

Các triết gia này chỉ giữ lại một đặc điểm của tư tưởng Socrate : phản đối khuynh hướng đồng nhất (anticonformisme) trên phạm vi tôn giáo cũng như xã hội. Họ chú trọng đến tính độc đáo riêng biệt của mỗi sự vật; theo đó, không thể có những ý tưởng tổng quát như Platon, cũng không có những tiêu chuẩn luận lý chung. Họ không quan tâm đến những tiêu chuẩn xã hội hay những lề thói quen thuộc thường ngày và thường làm những hành vi mang tính chất biểu tượng như kiểu ngôn sứ.

Trong lãnh vực luân lý, các triết gia Khuyển Nho này coi nhân đức là trên hết. Tuy thế, họ không chấp nhận lối đạo đức duy trí (intellectualisme) của Socrate, và chủ trương rằng nhân đức là hành động. Chỉ có một đức tính, đó là giải phóng con người khỏi ách nô lệ của nhu cầu. Sự tự do khỏi các nhu cầu là sự tự do duy nhất và là sự thiện tối cao.

Triết gia Khuyển Nho muốn vượt qua khuôn khổ của gia đình, quốc gia, quê hương để hình thành một thế giới huynh đệ đại đồng. Họ thường giao du với những người bị ruồng bỏ và cũng sống thật nghèo khó. Người ta cho rằng triết học Khuyển Nho là một thứ triết học của giai cấp vô sản Hy lạp.

Anthisthène là một môn đệ của Socrate, lớn hơn Platon chừng 20 tuổi. Ban đầu, ông sống với các đồng nghiệp trong giới quí tộc; nhưng sau đó, ông thấy chán nản với thứ triết học trường ốc và lân la với những người lao động, ăn mặc như người dân lao động nghèo khổ, dùng ngôn ngữ bình dân. Anthisthène cho rằng cần phải trở về với bản nhiên tính của cuộc sống; ông nói : "thà sống như một người điên, tôi không thà sống hưởng thụ".

Antisthène có một quan niệm về thần thánh khá đặc biệt, ông nói : "Xét theo luật [2] thì có nhiều vị thần. Xét theo bản tính [3] thì chỉ có một".

Có người chê trách Antisthène đã giao du với những tội phạm, ông trả lời : "Bác sĩ là người tạo nên sức khoẻ, nên không hành nghề nơi những người lành mạnh".

Môn đệ nổi tiếng nhất của Antisthène là Diogène. Ông này muốn sống như một loài chó [4]; nghĩa là một đời sống tự do phóng khoáng, không có những ước lệ của xã hội, của tôn giáo, hay tập tục phiền hà. Ông cho rằng mình không thuộc một dân tộc nào cả; và tự xưng là công dân của thế giới.

Người ta kể rằng ông sống theo lối "cái bang"; ở trong một cái lu bể, đi chân không, đeo bị, chống gậy, đi ăn mày và hô hào sống tình huynh đệ giữa loài người với nhau và cả với thú vật. Ông cầm đèn đi giữa ban ngày để tìm ai xứng danh là con người. Truyền thuyết còn kể rằng có lần Alexandre đại đế, nghe tiếng tăm của ông, đến thăm và hỏi ông có cần gì ban thưởng đặc ân gì không; ông trả lời : "chỉ xin được sống theo điều mình nghĩ".

B. Russell cho rằng Diogène là một người say sưa nhân đức; đối với ông, mọi của cải trần gian, so với nhân đức, đều không có gì đáng kể cả.

Học phái này là nguồn gốc của thuyết Khắc Kỷ

III. HỌC PHÁI MÉGARE

Học phái này do Euclide de Mégare {khoảng 40-360} sáng lập và lãnh đạo. Ong này cũng là một người bạn của Socrate. Một số thành viên được biết đến là : Eubulide, Diodore Gronos, Stilpo. Đôi khi người ta cũng gọi trường phái này là Eristique, nghĩa là trường phái của những người thích tranh luận.

Học phái này chịu ảnh hưởng của Socrate, nhất là cảm thức về tuyệt đối, dưới hình thức Sự Thiện Tối Cao; nhưng họ cũng dung hòa với một số lý thuyết của trường phái Elée. Họ cũng tiếp thu phương pháp "đấu lý" của Zénon và tạo cho nó thành một kiểu lý sự {Eristique} mang tính cách đặc trưng của học phái Mégare.

Từ kiểu tranh luận này, họ tạo nên được một số lý sự nổi tiếng; chẳng hạn lý sự người nói dối (nói rằng "tôi nói dối", có nghĩa là nói thật bằng cách nói dối); lý sự "một đống" (cần phải thêm vào số lúc ban đầu một số xác định bao nhiêu hạt lúa để có được "một đống" {tas}, sôros ?); lý sự "người hói" (cần phải mất bao nhiêu tóc để trở nên một người hói đầu ?). Những lý sự này được sử dụng đặc biệt để giản lược cái khả thể (le possible) vào cái thực thể (le réel).

Diodore Gronos đã chống lại Aristote bằng một lý sự nổi tiếng "người chiến thắng" hay " kẻ thống trị". Ông lý sự như sau:

- Tất cả những gì thuộc về quá khứ đều là một chân lý tất yếu; vì quá khứ là cái đã thể hiện xong rồi. Đối với quá khứ, không có cái khả thể.

- Nhưng hiện tại và tương lai lạ là kết quỉ của quá khứ; điều gì sẽ xẩy ra chỉ là hiệu quả của điều đang có. Một ngày kia, hiện tại và tương lai cũng sẽ trở thành dĩ vãng và cũng có tính chất tất yếu như dĩ vãng.

- Do đó, tất cả đều xẩy ra một cách tất yếu; và đối với điều gì phải hiện hữu thì không có chuyện có thể.

Như thế, ý niệm tiềm thể của Aristote là vô nghĩa; chỉ có cái "tất yếu" và cái "bất khả thể", không có một thứ trung gian "tiềm thể" hay "khả thể" nào cả; hoặc "người ta là" hoặc "người ta không là"; không có cái "có thể" và cũng không có cái "nếu".

Người ta có thể so sánh lối lý sự tạo nên một nghịch lý về thời gian của Diodore giống như lối lý sự về sự nghịch lý trong không gian của Zénon d' Elée {mũi tên và quả táo, Achilles và von rùa...}. Những điều đó gần với họ phái ngụy biện hơn là với Socrate. Tuy nhiên, điều gắn họ với Socrate đó là sự đồng nhất sự Thiện với Hữu Thể duy nhất và bất biến. Do đó, sự dữ chỉ là cái "không-hữu".

Khoa biện chứng "cãi vã" này dẫn tới phái Hoài Nghi.

***

KẾT LUẬN

Các học phái này có điểm chung, phát xuất từ tư tưởng của Socrate, là : chỉ có cái trực tiếp, cái hiện tại, cái cảm giác, cái hiện thực mới hiện hữu và mang lại lợi ích.

* Về khía cạnh tiêu cực, họ không chấp nhận học thuyết Ý Tưởng theo nghĩa của Platon; ngay cả một xác quyết luận lý, nhằm gán một thuộc từ cho một chủ từ, cũng là điều không thể được. Mỗi một hữu thể chỉ là điều nó là và nó đã hoàn toàn là nó rồi. Các tương quan không có một thực tại nào, chỉ có cá nhân là thực tại, chỉ có cảm giác là kiến thức đích thực.

* Về khía cạnh tích cực, nền luân lý liên hệ đến cá nhân như nó là và nhằm thực hiện tất cả hiện thực tính của cá nhân, không để mình bị tiêu tán trong khoái lạc, trong khuôn khổ của xã hội, trong sự lôi cuốn của những cảm tưởng hỗn độn và làm bối rối.

Chúng ta thấy rằng các học thuyết Hoài Nghi, Khoái Lạc và Khắc Kỷ sau này không khác gì lắm với những học phái trên đây.

Chú thích

[1] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 385.

[2] Nghĩa là theo ước lệ /convention/.

[3] Nature.

[4] Cyôn = chien; nghĩa là con chó; từ đó mới có từ ngữ cynisme và được dịch ra là học thuyết Khuyển Nho.

Bài 26: Triết học sau Hy Lạp - Aristote >>