Bài 27: Học thuyết hoài nghi - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

I. PYRRHON VÀ HỌC THUYẾT HOÀI NGHI Thuyết Hoài Nghi (Scepticisme) đã có mầm mống lâu đời trong một số học thuyết trước Socrate; nhưng chính Pyrrhon mới là người sáng lập nên một hệ thống triết học hoài nghi; do đó, người ta cũng gọi học thuyết hoài nghi là Pyrrhonisme. Ngoài Pyrrhon là người sáng lập, học thuyết này còn thu nhận được hai triết gia nổi tiếng là Arcésilas và Carnéade.

Chương VI

Chuyển tiếp luân lý

27

HỌC THUYẾT HOÀI NGHI

I. PYRRHON VÀ HỌC THUYẾT HOÀI NGHI

Thuyết Hoài Nghi (Scepticisme) đã có mầm mống lâu đời trong một số học thuyết trước Socrate; nhưng chính Pyrrhon mới là người sáng lập nên một hệ thống triết học hoài nghi; do đó, người ta cũng gọi học thuyết hoài nghi là Pyrrhonisme. Ngoài Pyrrhon là người sáng lập, học thuyết này còn thu nhận được hai triết gia nổi tiếng là Arcésilas và Carnéade.

Pyrrhon d' Élée sinh vào năm 365 và qua đời năm 275. Cũng như Socrate, ông không có để lại một văn kiện nào; ta chỉ biết về ông qua tài liệu của các đồ đệ mà thôi. Những tài liệu này lại không mấy xác thực; bởi vì con người của Pyrrhon đã trở thành như một nhân vật tiêu biểu, được gán cho nhiều điều mà người ta không biết có phải của ông hay chỉ là của các môn đệ. Do đó, người ta khó có thể biết chắc thực về con người cũng như tư tưởng thực của ông.

Người ta biết Pyrrhon có lúc muốn học nghề hội họa. Ông, cùng với một triết gia đồ đệ của Démocrite, được theo Alexandre Đại Đế trong những cuộc viễn chinh đến miền Tiểu Á và có làm quen với một vài nhà sư Ấn Độ. Có lẽ ông học được ở các nhà sư này một số điều, chẳng hạn thái độ không xác quyết một điều gì, không khẳng định cũng không phủ định; nhưng sống một thái độ "lãnh đạm" những trước bất trắc của cuộc đời.

Ông cũng có tiếp thu tư tưởng của nhóm triết gia thành Élée và lập trường của phái Mégare; theo đó, người ta luôn chú ý đến những nhược điểm của mọi lập luận. Dĩ nhiên, Pyrrhon đã biết những tư tưởng liên hệ đến những vấn đề cảm giác và tiêu chuẩn của tri thức.

II. TƯ TƯỞNG

Thuyết Hoài Nghi (Scepticisme) có nghĩa là một học thuyết nhằm tra vấn; triết gia theo thuyết hoài nghi là những người luôn muốn đặt lại vấn đề về các kiến thức của các học thuyết khác và thắc mắc không biết những điều đó có thực sự đúng với bản chất sự vật hay không. Từ đó, họ thiết định nên những chứng lý nghi vấn để đả phá tính cách độc đoán của các triết thuyết khác và đi đến chỗ hoài nghi cực đoan, hoặc hoài nghi có giới hạn. Hoài nghi cực đoan là thái độ nghi vấn tất cả mọi tri thức muốn vượt qua kinh nghiệm để khẳng định những điều không phải do cảm giác trực tiếp mang lại. Hoài nghi có giới hạn là thái độ chỉ nghi vấn một số điều nào đó thôi. Tóm lại, hoài nghi là chủ trương triết học cho rằng, ngoài kinh nghiệm cảm giác trực tiếp, không thể có một kiến thức nào là chắc chắn cả.

Mục tiêu chính yếu của học thuyết này cũng là muốn tìm được hạnh phúc bằng một thái độ "bình thản" (ataraxia), nhưng bằng một đường lối riêng.

Trước tiên, họ thấy rằng có quá nhiều ý kiến về hạnh phúc; điều này làm cho con người khó có thể đạt đến hạnh phúc thực sự. Muốn giữ tâm hồn được bình lặng, triết gia hoài nghi cần ngưng phán đoán, bằng lòng với việc "nhìn xem"; biết rằng mình không thể suy lý và biết được việc gì; mà chỉ có thể sử dụng các ước lệ sẵn có trong cuộc sống một cách nghệ thuật, để tìm được hạnh phúc. Như thế, chỉ có nhân đức là điều tốt và nhân đức ở đây là thái độ "bình thản". Chỉ cách thức đó mới có thể giúp con người tìm được hạnh phúc, hoặc ít ra tìm được sự thanh bình trong tâm hồn, dù vẫn luôn ý thức rằng mọi sự đều là ảo ảnh.

Những điểm chính yếu của học thuyết này như sau :

1. Phân biệt thực tại và hiện tượng

Pyrrhon nhấn mạnh về sự khác biệt hoàn toàn giữa thực tại và hiện tượng : các sự vật không xuất hiện ra như chính bản chất của chúng... Chúng ta đồng ý với nhau về những điều chúng ta thấy trong cuộc sống hằng ngày, nhưng các xác quyết mang tính cách giáo điều, dựa trên những lý luận, thì chúng ta không chắc chắn. Những phán quyết của chúng ta dựa vào những điều không chắc chắn đó; bởi vì chúng ta chỉ biết những tình cảm của mình mà thôi. Điều gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, thì chúng ta biết... Chúng ta có thể xác quyết về những điều xuất hiện ra, nhưng không biết chính hữu thể như là nó.

2. Xác định khả năng tri thức

Pyrrhon không phủ nhận khả năng tri thức, nhưng chỉ chủ trương rằng: tri thức mỗi người đều có giá trị tương đối. Đối với một vài vấn đề, mỗi người có những nhận định khác nhau, có khi lại nghịch nhau nữa.

3. Tìm đến một thái độ thực tiễn

Như thế, trước hết, chúng ta cần biết đình chỉ mọi phán đoán (epokè); và giữ một thái độ lãnh đãm tuyệt đối (ataraxia). Đình chỉ phán đoán, vì giác quan cũng như lý trí không thể phân biệt thực hư được. Lãnh đạm đối với sự vật, vì ta không thể tìm đâu ra một lý do chắc chắn để thấu hiểu cơ cấu nội tại của sự vật. Tốt hơn hết là chấp nhận hiện trạng cụ thể, để tâm hồn được yên hàn.

4. Về vấn đề luân lý, chính trị và tôn giáo

Trong những lãnh vực này, các triết gia Hoài Nghi có tinh thần thủ cựu; họ giữ y nguyên những thói quen truyền thống. Điều nầy dễ hiểu, vì họ quá ý thức về sự biến đổi của thế sự. Đàng khác, họ muốn an tâm, không muốn thắc mắc gì, để mặc cho mình trôi theo trào lưu sinh hoạt của đa số quần chúng.

III. ẢNH HƯỞNG

Học thuyết này hòa nhập với lập trường của một số triết gia trong phái Aristote, tạo nên chủ trương chiết trung; và với những đồ đệ của học phái Platon, những người đã không theo được các hệ thống siêu hình cao siêu của thầy, để đi đến thuyết hoài nghi hoặc thuyết cái nhiên.

1. Thuyết Cái Nhiên

Arcésilas (325 tcn - 241 tcn) là người lãnh đạo phái Tân-Académie từ năm 268 tcn đến 241 tcn. Ông chống lại Zénon và theo Socrate trong các mệnh đề : Tôi biết tôi không biết gì hết; và ông thêm : không biết bằng sự biết chắc chắn.

Carnéade (215 tcn - 126 tcn) là người lãnh đạo trường phái Tân-Académie từ năm 160 tcn đến 126 tcn. Ông chủ trương con người không thể biết chắc chắn mà chỉ có thể biết phỏng chừng.

2. Thuyết Hoài Nghi tuyệt đối

Chính hai triết gia Aenésidène đảo Crète (khoảng 80 tcn đến 130 scn) và Sextus Empiricus, người Roma, mới là những người viết sách trình bầy học thuyết Hoài nghi một cách chính thức. Énésidème dạy học ở Alexandrie và viết 8 cuốn sách về Pyrrhon. Sextus Empiricus thì thu thập các vấn nại của các triết gia đi trước đề viết thành bộ Hypothyposes hay Esquisses pyrrhoniennes. Hai ông đã khai thác hoài nghi thuyết bằng một lối lý luận trùng phức, tức là một vòng luẩn quẩn, muốn đánh giá một chứng minh lại phải chứng minh.

3. Thuyết Chiết Trung (électisme).

Thuyết Chiết Trung là một kết quả của thuyết hoài nghi. Họ không chọn hẳn một học thuyết triết học nào, không tìm cách giải thích riêng biệt nào, nhưng chỉ tuyển chọn (eklegein) trong những ý kiến triết học đi trước để dung hòa. Những người Roma thường có khuynh hướng này, vì họ không thích những suy tư lý thuyết trừu tượng, nhưng chú trong nhiều đến thực hành; họ muốn tìm thấy trong triết học những qui luật cho việc cư xử, hữu ích cho vấn đề chính trị của mình. Có hai hệ phái trong học thuyết Chiết Trung này :

* Hệ phái Roma với M. Tullius Cicéron (106 tcn - 44 tcn).

Cicéron nổi tiếng là một nhà hùng biện và là một nhà chính trị hơn là triết gia. Nhưng ông viết khá nhiều sách triết học, nổi tiếng nhất là cuốn Hortensius [1]. Cicéron chịu ảnh hưởng của nhiều học thuyết : thuyết Cái Nhiên, thuyết siêu hình của Platon, luân lý của phái khắc kỷ, xã hội thuyết của Aristote. Ông dung hòa tất cả những khuynh hướng đó, tạo nên một học thuyết Chiết Trung.

* Hệ Phái Bình Chú (commentateurs)

Hệ phái này gồm các triết gia môn đệ của Aristote, chuyên giảng nghĩa các tác phẩm của Thầy. Ta có thể có thể xếp họ vào hệ phái Chiết Trung và họ có xu hướng tìm góp nhiều triết thuyết khác nhau để bố túc lẫn nhau.

Nổi tiếng hơn cả là Théphraste (372-288), người trực tiếp nối nghiệp Aristote ở trường Lycée. Ông là luận lý gia nổi tiếng, một nhà quan sát tinh tế như ta thấy trong tác phẩm les caractères của ông.

Alexandre d' Aphrodisias (cuối thế kỷ II) là một nhân vật đáng gọi là "Aristote thứ II", vì lối bình chú sáng sủa. Tuy nhiên, có nhiều điểm giải thích của ông, khi bình chú những đoạn tối nghĩa của Thầy, đã làm cho học thuyết Aristote bị hiểu sai lạc ở thời Trung Cổ. Aphrodisias công nhận trí năng tác động và hiện thể thuần túy đồng nhất với nhau; ông chối bỏ sự quan phòng và sự bất tử của linh hồn cá nhân.

IV. NHẬN XÉT

1. Có khá nhiều hệ phái phát xuất từ dòng triết học hoài nghi này. Chẳng hạn thái độ hoài nghi của David Hume và Montaigne vào thế kỷ XVII. Nietzsche cũng phần nào chịu ảnh hưởng của tinh thần hoài nghi; trong tác phẩm Ecce Homo, ông viết "Chỉ có triết gia hoài nghi mới là đáng kể". Hégel phân biệt hai loại triết thuyết Hoài nghi :

a. Thuyết Hoài Nghi cổ điển (Pyrrhon, Aenésidème...),

Thứ hoài nghi này hệ tại việc hoài nghi của thế giới bên ngoài và chỉ tin vào thực tại của một thế giới tâm linh, tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa. Học thuyết Berkeley thuộc loại hoài nghi này.

b. Thuyết Hoài Nghi tân thời (thuyết thực chứng và duy khoa học)

Chủ trương chỉ tin vào giác quan, chỉ xác nhận thực tại của thế giới vật chất và hoài nghi sự hiện hữu của Thượng Đế; lập trường của Auguste Comte, chẳng hạn, thuộc loại hoài nghi này. Thái độ bi quan đối với mọi sự vật đưa các triết gia hoài nghi về Thượng đế.

Tuy nhiên, "niềm tin" vào Thượng Đế của học phái "Hoài Nghi Cổ Điển" cũng chỉ là một "niềm tin thực hành" hay một "niềm tin ngoại lý", vì họ không chấp nhận các lý chúng về sự hiện hữu của Thượng đế. Nói rằng mọi dân mọi đời (Consensus unanimis) đều tin có Thượng đế ư ? Nhưng ta không thể nào khảo sát được tất cả các ý kiến của mọi dân tộc và loại ra những dư luận lầm lạc. Nói rằng trật tự trong vũ trụ có chứng minh Thượng Đế ư ? Nhưng triết gia hoài nghi cho rằng lý chứng đó không chứng minh thực sự; vì ta không nên hiểu Thượng Đế theo kiểu thế gian và theo tầm mức hạn hẹp của con người.

2. Thái độ hoài nghi của Pyrrhon cũng không phải là phương pháp trí thức theo kiểu "hoài nghi phương pháp" của Descartes sau nầy. Descartes hoài đi để mong đạt tới một nền tảng chân lý chắc chắn; còn học thuyết Hoài Nghi này lại chỉ thúc đẩy con người ngưng phán đoán, sống thực dụng và trốn tranh câu giải đáp trọn vẹn.

Tuy thế, trong dòng lịch sử triết học tây phương, học thuyết Hoài Nghi cũng là một nhân tố "đỡ đẻ" cho nhiều học thuyết tích cực ra đời. Các triết gia hoài nghi luôn bác bỏ các lập trường độc đoán (dogmatique). Họ có công đập đổ, và điều đó cũng mở đường cho công việc kiến thiết những lý thuyết vững chắc hơn. Cách đặc biệt, họ bắt buộc nhà tư tưởng phải chú trọng đến thực tại cụ thể, phải đem lý thuyết của mình ra thử thách trong thực tại. Học thuyết của Hume có công không nhỏ trong việc hình thành hệ thống của Kant.

Chú thích

[1] "Lời Khuyên tìm sự Khôn Ngoan"; cuốn sách này có lúc đã tác động mạnh mẽ đến lựa chọn của thánh Augustin.

Bài 28: Épicure và học thuyết khoái lạc >>