Bài 29: Thuyết khắc kỷ (P2) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Vật lý học ở đây, theo tinh thần của Hy lạp thời đầu, mang ý nghĩa "phusis", nghĩa là "sinh trưởng"; do đó, vật lý học của Khắc kỷ không phải khoa vật lý hiện đại, nhưng là một thứ thiên nhiên học, nhằm triển khai thiên nhiên tính trong những định luật của nó, tạo thành nên vạn vật. Vật lý học của phái khắc kỷ mang tính chất duy vật và phiếm thần tự nhiên.
B. VẬT LÝ HỌC HAY THIÊN NHIÊN HỌC
Vật lý học ở đây, theo tinh thần của Hy lạp thời đầu, mang ý nghĩa "phusis", nghĩa là "sinh trưởng"; do đó, vật lý học của Khắc kỷ không phải khoa vật lý hiện đại, nhưng là một thứ thiên nhiên học, nhằm triển khai thiên nhiên tính trong những định luật của nó, tạo thành nên vạn vật. Vật lý học của phái khắc kỷ mang tính chất duy vật và phiếm thần tự nhiên.
1. Vũ Trụ
Vật lý học của khắc kỷ xây dựng trên ý niệm "Cosmos" (thế giới). Vũ trụ bao gồm tất cả vạn vật mà linh hồn chính là Thượng Đế. Thượng Đế của phái Khắc kỷ không phải là một Thượng Đế siêu việt, tách biệt khỏi thế giới như với Platon và Aristote. Thượng Đế đó cũng không phải là một ngôi vị như trong Kitô giáo, mà chính là thiên nhiên, là định mệnh. Thượng Đế đó hiện hữu khắp nơi trong vũ trụ và làm cho một sự vật được sống, được thống nhất hóa, được hướng dẫn tới cứu cánh mà chính Ngài đã quan phòng lựa chọn cho nó. Như vậy, Thượng Đế hay Thiên nhiên cũng chỉ là một. Thượng Đế tác tạo ra vũ trụ và cũng là bản thể của vũ trụ.
Tất cả vũ trụ này làm nên một hữu thể duy nhất; tất cả những cá vật chỉ là những phần tử hay là những cơ quan khác nhau của cùng một cơ thể vĩ đại. Senèque viết : "tất cả ở trong tất cả"; và Marc-Aurèle nói : "Chỉ có một thứ ánh sáng của mặt trời, dù rằng ánh sáng đó được phân chia vô tận, trên các tường thành, trên các ngọn núi v.v.. Chỉ có một chất liệu chung, dù rằng nó được gieo rắc thành vô cùng các sự vật riêng biệt. Chỉ có một đời sống duy nhất, dù nó được phân chia trong vô số các bản tính và cơ thể giới hạn. Chỉ có một linh hồn thông sáng, dù cho có sự phân cách bên ngoài". Vũ trụ có lý tính, vì thế nó có một định luật nội tại điều khiển. "Vũ trụ là một thân thể hoàn hảo, nhưng các chi thể không hoàn hảo vì mỗi chi thể đều liên quan đến toàn thể nên không hiện hữu tự lập" (Plutarque). Như thế, tất cả vạn vật đều hòa đồng, hiệp nhất với nhau; Thượng Đế, vũ trụ, con người cũng chỉ là một mà thôi. Người ta thấy đây là một trực giác rất căn bản, trực giác "vạn vật đồng nhất thể", nơi nhiều nhà hiền triết của nhân loại.
Sự liên đới giữa toàn thể và thành phần cũng như giữa các thành phần với nhau đều được chi phối do logos, tạo nên một trạng thái hòa đồng căn bản. Vì con người là một mảnh của vũ trụ, nên hồn cũng là một mảnh của Thượng Đế. Linh hồn có lý trí, nhưng linh hồn cũng chỉ là vật chất; khi thể xác tan rã linh hồn còn tồn tại cho đến ngày cùng tận của một chu kỳ, tức đến ngày cuộc "đại hỏa hoạn", thì mới bị tiêu diệt.
Thế giới này không cần đến một "khuôn mẫu" trong thế giới ý tưởng như Platon, và cũng không cần một "lực hấp dẫn" của Đệ Nhất Động Cơ như Aristote. Điều này chúng ta sẽ nhận thấy trong trong thứ "Tự Nhiên Thần Luận" của triết học Ánh Sáng vào thế kỷ XVIII. Thuyết Khắc Kỷ là một thứ nhất nguyên thuyết, đồng thời cũng là phiếm thần thuyết tự nhiên là như thế.
2. Hai nguyên lý
Thế giới này có hai nguyên lý : nguyên lý thụ động và nguyên lý tác động. Nguyên lý thụ động là vật chất; nguyên lý tác động là "lý trí", là logos. Hai nguyên lý này phối hợp với nhau một cách mật thiết; nguyên lý tác động lan tràn khắp nơi trong vật chất, thầm nhuần mọi sự chẳng khác gì rượu đổ vào nước hay như máu luân chuyển trong cơ thể. Nguyên lý tác động là một thứ một "hơi thở" (pneuma) làm cho vật chất sống động. Đây là một thứ "lý tính đại đồng", làm cho vật lý học của phái khắc kỷ mang đầy tính chất duy linh (le spiritualisme), mặc dù triết gia khắc kỷ chỉ chấp nhận sự hiện hữu của những vật thể.
3. Vũ trụ biến hóa
Vũ trụ biến hóa không ngừng, nhưng không phải theo sự gặp gỡ may rủi của những nguyên tử như Épicure; mà là theo đúng trật tự phổ quát, theo đúng sự "an bài" của Thượng Đế.
Vũ Trụ được làm nên do các yếu tố căn bản: lửa, nước, khí và đất. Ban đầu có một thứ "lửa tác tạo". Lửa này là nguyên lý sáng tạo ra muôn vật, là nguyên lý bảo tồn, tức nơi trở về của muôn vật. Lửa sẽ sáng tạo nên mọi sự, bằng một quá trình biến hóa và hòa trộn ba chất liệu kia, theo một chu kỳ nhất định; nhưng rồi cuối cùng lửa sẽ thâu hồi mọi sự để đốt cháy tiêu tan bằng một cuộc "đại hỏa hoạn" (conflagration). Như thế, vũ trụ không vĩnh cửu, không bất biến; vũ trụ có diễn tiến trong thời gian, nó có khởi sự và có cùng tận, ít nhất là theo chu kỳ, làm nên những chu kỳ "đại niên" (magnus annus). Những chu kỳ khác nhau đó, trong từng chi tiết, lại đồng tính với nhau; ta thấy ở đây một vòng "phục diễn bất tận" như trong tư tưởng của Nietzsche sau này.
4. Thượng Đế
Những triết gia khắc kỷ có những đoạn văn hết sức cảm động về Thượng Đế khiến ta thấy như thể họ đối diện với một Thượng Đế ngôi vị chứ không phải một Thượng Đế của thiên nhiên. Hình ảnh Thượng Đế của phái khắc kỷ cũng không còn là một Thượng Đế cao xa, siêu việt như trong Platon và Aristote, mà là một vị Thượng Đế gần gũi quan phòng mọi sự cho cuộc sống con người, luôn luôn điều khiển và theo dõi sinh hoạt của chúng nhân. Thựơng Đế là cha chung muôn loài, thấu suốt và bao bọc mọi sự [3]. Ta có một vài đoạn văn tiêu biểu về vấn đề này :
*"Như bản tính của tuyết là lạnh và trắng, bản tính của Thượng Đế là tiên kiến và cung cấp".
*"Thượng Đế ở gần, ở với anh và trong anh. Hỡi Lucius, tôi quả quyết rằng : có một thánh linh ngự trong ta, quan sát và cất giữ những việc thiện của ta... không nhờ Thượng Đế, không có ai là thiện nhân" (Senèque).
*"Không nên xây dựng những đền thờ cao lớn lộng lẫy : mỗi người phải tôn kính Thượng Đế trong thâm tâm của mình".
Mặt khác, về phương diện lý thuyết, triết gia phái khắc kỷ bầy tỏ một lập trường phiếm thần. Đúng ra, Thượng Đế của họ chỉ là logos trong thiên nhiên, hoặc được đồng hóa với "Lửa tác tạo" (feu artiste). Họ cũng gọi vũ trụ là Thượng Đế, với những phẩm tính như bất tử, bất thọ sinh, hóa công của trật tự phổ quát....
Ta có thể dâng lên Thượng Đế những lời cầu nguyện; nhưng không phải để Người thi hành ước vọng của ta, mà là để ta sống thuận theo định mệnh của người. Nghi thức tế tự không phải là những hành vi bên ngoài cho bằng tôn kính Thượng Đế trong thâm tâm. Tâm hồn đạo đức là tâm hồn biết chiêm ngưỡng và tuân phục Thượng Đế.
* Tại sao người ta chăm lo chiêm ngưỡng, thể hiện một hành vi đẹp lòng Chúa ? Vì họ không để cho công trình trọng đại của Thiên Chúa bị chôn vùi trong bóng tối, vì thiếu người chứng kiến".
Thực ra, Thiên Chúa của người khắc kỷ không gắn bó với con người cho bằng con người tìm cách nên giống Thiên Chúa; đó cũng không phải là một sự kết hiệp với Ngài như trong Kitô giáo.
Nói chung, thuyết khắc kỷ được xây dựng qua một giai đoạn khá dài, với nhiều triết gia thuộc các từng lớp khác nhau. Do đó, tuy có những điềm chung, nhưng lập trường của mỗi người cũng không thể hoàn toàn đồng nhất với nhau được.
5. Định Mệnh và Quan Phòng
Lý tính đại đồng là một định luật tất định, được ghi khắc trong thiên nhiên. Chrysippe nói định mệnh là "một giây xích của các nguyên nhân" (nexus causarum), tức là một sự liên hệ chặt chẽ không thể nào bứt ra được; và cái này là nguyên nhân của cái kia. Mọi sự vật đều diễn biến theo một tất định luật. Mọi hiện tượng đều được giải thích theo một định luật bất biến của định mệnh. Mọi cái ta gọi là "hên" hay "xui" đều có lý do tiềm tàng của nó mà nhiều khi con người không có khả năng khám phá ra.
Tuy nhiên, định luật đấy không phải là một "định mệnh" bi đát, do sự áp đặt của một thần minh nào bên ngoài thiên nhiên; mà chính là cơ cấu nội tại của vũ trụ. Cho nên định mệnh là biểu thị của sự khôn ngoan thần minh, của lý tính đại đồng; định mệnh giúp cho mọi sự có được chỗ riêng của mình, được diễn biến theo sự sắp xếp hòa hợp của toàn bộ vũ trụ. Định mệnh đó chính là một "thiêng lực", một "logos" thúc đẩy và điều khiển mọi sự vật trong vũ trụ; đó cũng là sự quan phòng khôn ngoan của Thượng Đế.
Trong tình hình đó, bói toán là điều cần thiết và khôn ngoan. Chrysippe nói bói toán "là khả năng biết nhìn và giảng nghĩa những dầu hiệu, nhờ đó các vị thần biểu lộ ra với con người. Nhiệm vụ của nó là khám phá ra trước được những ý định của thần thánh đối với con người, và làm, cách nào để có thể thỏa mãn và làm cho họ được hài lòng" [4].
Quan niệm này cũng khác hẳn với Platon và Aristote, vì hai ông quan niệm vật chất là một trở lực phi lý.
Chú thích
[3] Xc. Bài diễn văn của thánh Phaolô đọc trước dân thành Aten: Cv 17,28.
[4] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 434.