Bài 32: Philon d' Alexandrie - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Philon sinh tại thành Alexandrie năm 30 tcn và mất năm 40 cn, trong một gia đình Do Thái định cư tại thành nầy. Đây là một gia đình có thần thế trong thành phố Alexandrie [1]; người anh là Lysimaque, làm quản đốc tại Roma; Philon thì được những người Do Thái ở đây cử sang Roma để xin với hoàng đế Caligula cho dân Do Thái trong Đế Quốc được miễn việc tôn thờ hoàng đế; vì điều này trái với niềm tin Do Thái Giáo. Là một người Do Thái, dĩ nhiên Philon được thụ huấn về giáo lý và Kinh Thánh [2]. Mặt khác, sống trong một thành phố đặc trưng của văn hóa Hy Lạp, Philon cũng am tường về những triết gia "ngoại giáo" của Hy Lạp. Trong tư tưởng của Philon, người ta thấy được rõ ràng ảnh hưởng của triết học Hy lạp và Kinh Thánh, Mai Sen và các hiền triết. Philon có viết một vài tác phẩm luân lý và triết học, trong đó, người ta nhận thấy đề cập đến những vấn đề Kinh Thánh được tranh luận trong sự so sánh với những tư tưởng Hy lạp.
32
PHILON D' Alexandrie
(30 tcn - 50 cn)
I. TIỂU SỬ
Philon sinh tại thành Alexandrie năm 30 tcn và mất năm 40 cn, trong một gia đình Do Thái định cư tại thành nầy. Đây là một gia đình có thần thế trong thành phố Alexandrie [1]; người anh là Lysimaque, làm quản đốc tại Roma; Philon thì được những người Do Thái ở đây cử sang Roma để xin với hoàng đế Caligula cho dân Do Thái trong Đế Quốc được miễn việc tôn thờ hoàng đế; vì điều này trái với niềm tin Do Thái Giáo.
Là một người Do Thái, dĩ nhiên Philon được thụ huấn về giáo lý và Kinh Thánh [2]. Mặt khác, sống trong một thành phố đặc trưng của văn hóa Hy Lạp, Philon cũng am tường về những triết gia "ngoại giáo" của Hy Lạp. Trong tư tưởng của Philon, người ta thấy được rõ ràng ảnh hưởng của triết học Hy lạp và Kinh Thánh, Mai Sen và các hiền triết. Philon có viết một vài tác phẩm luân lý và triết học, trong đó, người ta nhận thấy đề cập đến những vấn đề Kinh Thánh được tranh luận trong sự so sánh với những tư tưởng Hy lạp.
II. TƯ TƯỞNG
1. Hòa hợp Đức Tin và triết học
Nét chính yếu của tư tưởng Philon là nỗ lực tổng hợp tư tưởng của Mai sen và tư tưởng Platon. Philon sử dụng hầu như tất cả văn hóa và sự khôn ngoan Hy lạp, mà ít quan tâm đến một sự liên hệ luận lý nội tại, để diễn tả niềm tin Do Thái Giáo; đến nỗi có một châm ngôn lưu truyền nơi những người Hy Lạp là : "Hoặc Platon cho Philon mượn tư tưởng, hoặc Philon cho Platon mượn tư tưởng" (Ou bien c'est Philon qui Platonise ou bien c'est Platon qui Philonise). Theo tinh thần của Philon, môn đệ của ông đã nói rằng "Platon là ngôn sứ Mai sen nói tiếng Hy Lạp". Nói cách khác, Philon muốn dung hòa mạc khải và Lý trí [3].
Khuynh hướng này không này là mới lạ trong môi trường những người Do Thái lưu vong, nhất là tại Alexandrie. Tại đây, ngoài những nhóm Do Thái Giáo chính thống, người ta còn thấy có nhóm Esséniens chuyên chăm trong đời sống chiêm niệm và khổ chế mà người ta gọi là "secte helléniste" (giáo phái Hy Lạp). Thánh Clément d' Alexandrie còn thuật lại rằng Aristobule đã sáng tác những vầng thơ nói rằng sự khôn ngoan Hy Lạp đã phát xuất từ mặc khải Do Thái giáo.
Tuy nhiên, chính Philon mới là người đẩy xa hơn vấn đề này, bằng việc thiết lập những nền tảng lý trí cho niềm tin và đưa ra những giải thích triết lý về những chân lý mặc khải vượt trên lý trí. Philon còn đi trước cả Clément và Isidore de Séville, trước Pierre Damien để quả quyết rằng triết học là "nữ tì của thần học" [4].
Để làm công việc này, Philon áp dụng phương pháp ẩn dụ [5] trong việc tìm hiểu Kinh Thánh; theo đó, Kinh Thánh không còn là một lịch sử của ơn Cứu Độ, cho bằng là tiến trình của một linh hồn tiến đến cùng Thiên Chúa. Chẳng hạn ông coi trình thuật sáng thế là việc một linh hồn (Adam) được bị cảm giác chi phối (Evà) để rơi vào trong con đường khoái lạc (con rắn). Linh hồn con người, trong nỗ lực muốn tìm lại tinh thần nguyên thủy của mình, phải được thanh luyện. Có ba nẻo đường được trượng trưng trong khuôn mặt các tổ phụ : - Bằng đời sống khắc khổ (Gia cóp); - Bằng lời giảng thuyết (Abraham); - Và bằng ân sủng (Isaac). Như thế, hình ảnh các tổ phụ cũng chỉ là hình ảnh những linh hồn trên đường tìm về "thế giới ý tưởng" trước đây của mình.
Philon cũng ca ngợi sự khôn ngoan Đông Phương và nhận thấy ở đó có nhiều điều giống với "những kinh nghiệm thánh" của Mai sen.
2. Thiên Chúa Siêu Việt
Philon xử dụng những ý niệm về Thiên Chúa của Platon, nhưng sửa lại cho am hợp phần nào với niềm tin Do Thái giáo. Philon cũng công nhận Thiên Chúa hiện hữu từ đời đời trong thế giới ý tưởng; và ông cũng nhấn mạnh đến tính cách siêu việt của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất, là Hữu Thể Tối Cao, hoàn toàn ẩn dấu và bất khả thấu đạt. Ngài không có hình dáng, không có những phẩm chất như con người. Ngài là Đấng "tốt lành hơn cả sự Thiện, tinh tuyền hơn sự Đơn Nhất, nguyên thủy hơn Nguyên Tử; là Đấng Tạo hoá, là Chúa và là Cha của tất cả mọi sự hiện hữu, là Nguyên Nhân phổ quát và luôn tác động; Ngài là Đấng làm nên tất cả, nhìn thấy tất cả và không ai thấy được Ngài" [6].
Thiên Chúa vượt hẳn và xa cách vượt bực trên vũ trụ. Tuy nhiên, một đàng, con người có thể tìm đến Ngài bằng việc chiêm ngắm, chiêm ngắm Thiên Chúa trong thế giới và vượt trên thế giới. Đây là một sự tổng hợp hai khuynh hướng trong tư tưởng tôn giáo Hy lạp; và Philon coi đó như hai giai đoạn của một tiến trình vươn lên cùng Thiên Chúa. Đàng khác, con người cũng cần phải biết suy niệm, từ bỏ và thụ động hoàn toàn (buông lỏng) trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Philon cho rằng đó là ý nghĩa của tất cả triết học, của tất cả sự khôn ngoan; bởi vì cùng đích của việc tìm kiếm chính là được nhận biết Thiên Chúa.
"Danh dự của tâm hồn cao thượng xuất chúng là vươn mình lên khỏi trào lưu biến chuyển, để bám vào Đấng vô tạo thành".
3. Các trung gian
Tuy Thiên Chúa là Đấng siêu việt, nhưng theo niềm Tin Do Thái giáo, Philon không cho rằng Thiên Chúa không có liên lạc gì với hạ giới. Trái lại, Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại.
Để dung hòa điều đó với siêu việt tính của Thiên Chúa, Philon nghĩ tới những hữu thể trung gian. Thiên Chúa siêu việt, nên có phải những trung gian để liên lạc với hạ giới và liên kết thụ tạo với ngài. Dựa theo Platon, Philon công nhận, bên cạnh Thiên Chúa, còn có những ý tưởng; nhưng ông không đồng ý với Platon rằng những tưởng đó là vĩnh cửu. Ông xếp tất cả những ý tưởng đó trong một "thế giới khả tri".
Những ý tưởng này cũng là những thần lực hoạt động phát xuất từ Thiên Chúa, tương tự những kẻ hầu cận Thiên Chúa, những đại diện, những sứ giả, những dụng cụ; hoặc là phẩm tính và ân huệ của Thiên Chúa. Những trung gian này thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa; chúng có thể thông ban ân huệ, đóng góp vào công trình sáng tạo, sửa dạy hay tuyên phạt. Đó cũng chính là các thiên thần hay ma quỉ.
Nhờ những trung gian này, Thiên Chúa tác động trên vật chất vĩnh cửu và thiết định trật tự trong thế giới. Mặt khác, các trung gian là những nấc thang để đưa linh hồn trở về cùng Thiên Chúa.
4. Logos
Dựa theo Aristote, Philon lại đặt thế giới khả tri đó vào trong một Tinh Thần (Nous) và là nơi ngự trị của các mô thức. Rồi ông gọi Tinh Thần là Logos. Như thế, Logos là toàn bộ các "thần lực" phát xuất từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, từ ngữ này cũng được dùng theo nhiều ý nghĩa : Tư tưởng của Thần Linh, của thế giới khả niệm; là hồn vũ trụ, hay là ánh sáng của Thiên Chúa...
Trước hết, Logos được quan niệm như trung gian của Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng vũ trụ. Philon viết :
"Trong công việc sản xuất sự vật gì bất kỳ, cũng cần tới rất nhiều nguyên tắc như vật chất, công cụ, chủ đích; ví dụ có ai hỏi phải làm gì để xây dựng một ngôi nhà hay một đền đài thì người ta sẽ bảo là cần một người thợ, những tảng đá, gỗ, những vật liệu... Và nếu đi từ những công cuộc xây cất nhỏ đến việc xây cất một ngôi nhà lớn, một đô thị vĩ đại như vũ trụ, thì người ta sẽ khám phá thấy rằng nguyên nhân của công cuộc xây dựng đó là Thiên Chúa, Người đã sáng tạo ra nó; vật chất là bốn hành chất mà nó được cấu tạo; còn công cụ là Ngôi Lời Thần Linh, nhờ đó mà vũ trụ được kiến tạo" (De Cherubin, 125-127.M.I, 126) [7].
Tuy nhiên, theo truyền thống thần học Do Thái, Logos còn được hiểu "là một trung gian nhờ đó, Thiên Chúa hoạt động trên vũ trụ và cũng nhờ đó vũ trụ mới vươn tới Thiên Chúa được" [8]. Từ một quan điểm Do Thái giáo như thế, Philon tiến xa hơn việc coi Logos chỉ như một thứ "lý tính của vũ trụ" hay một nguyên lý thống nhất, để nhìn thấy một logos mang tính cách tôn giáo. Philon gọi Logos là nguyên lý của mọi sự phát triển, là khuôn mẫu của thế giới, là biểu hiện không hoàn hảo về Thiên Chúa. Nhờ Ngôì Lời Thiên Chúa tạo nên mọi sự và coi sóc mọi sự. Ngược lại, Logos trợ giúp cho con người vươn lên tới Thiên Chúa, là Đấng Biện Hộ (Intercesseur) cho con người. Nhờ Ngôi Lời, linh hồn, hoặc một phần cao nhất của linh hồn, có thể đón nhận được hơi thở thần linh, làm chủ được xác thịt, vượt qua tội lỗi và được thanh tẩy để có thể trở về cùng Thiên Chúa, để vươn lên tới Ngài, tới gần được Ngài, và để kết hiệp với Ngài trong sự chiêm niệm hoặc trong trạng thái xuất thần. Cuối cùng, linh hồn có thể thoát ra được thân xác để an nghỉ trong Thiên Chúa và nhìn thấu tất cả mọi sự trong mối tương quan với Siêu Việt tuyệt đối. Plotin còn gọi Logos là Ngôi Lời Vĩnh Cửu, là Trưởng Nam (Protogonos=Primogenitus) của Thiên Chúa.
Ý niệm Logos trong Philon có nhiều điểm trùng hợp với Logos trong Tin Mừng Gioan. Nhiều tác giả khẳng định rằng thánh Gioan đã sử dụng từ ngữ và ý nghĩa của Logos theo tinh thần Philon. Chính Amélius, một môn đệ của Plotin, đã muốn đồng hóa Logos của Plotin với Logos của Kitô giáo [9]. Tuy nhiên, người ta không thể nào không thấy những khác biệt quan trọng của Logos trong Gioan với Logos trong Philon.
Điểm khác biệt quan trọng nhất là : Thánh Gioan cho rằng Logos là một Ngôi vị, đồng đẳng với Thiên Chúa. Ngược lại, với Philon, tính cách Ngôi vị của Logos không được rõ ràng. Philon coi Logos cũng chỉ là một thứ trung gian; tuy nổi bật trong số các trung gian khác; nhưng không đồng đẳng với Thiên Chúa.
Trong khi đó, Héraclite và các triết gia Khắc Kỷ coi Logos là nguyên lý duy nhất của sự sống tác động trong vũ trụ và linh hồn con người phát xuất từ Logos đại đồng. Logos, được nhìn như thế, chỉ là một qui luật tất yếu, mù lòa, chứ không phải là một ngôi vị. Trong học thuyết của Héraclite, tất cả mọi sự được tạo thành theo logos (selon le Logos); còn trong thánh Gioan, tất cả mọi vật được tạo thành nhờ Logos (par Lui) [10]. Logos của Philon thật sự gần với quan niệm của Héraclite hơn là với Thánh Gioan.
Thật ra, khi thánh Gioan nói trong Lời Tựa rằng "Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa, ... Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành..." (Ga 1, 1.3), Ngài cảm hứng trực tiếp từ sách Khôn Ngoan (Kn 9, 1-2) : "Ngài đã tác thành mọi sự nhờ Lời của Ngài và Ngài đã tạo nên con người nhờ sự khôn ngoan của Ngài". Ta cũng thấy cùng một lối nhìn như vậy trong Phaolô, thư 1 Cr 1, 24 : "Đấng ấy chính là Đức Kitô, Sức Mạnh và sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa"; và Cl 1, 15-16 : "Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là Trưởng Tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo; vì trong Người muôn vật được tạo thành..."
III. KẾT
Nhìn trong dòng lịch sử triết học tây phương, chúng ta có thể nhận thấy Philon đóng một vai trò tiên phong trong việc hòa hợp niềm Tin và lý trí. Trong tinh thần của người Hy lạp, chính sự khôn ngoan của lý trí mới là chìa khóa để đạt đến giải thoát. Trong khi đó, tinh thần Do Thái- Kitô giáo thì lại đặt tất cả ý nghĩa cuộc sống trong mối tương quan với Thượng Đế, thể hiện trong niềm Tin. Nếu chúng ta tin tưởng như Thánh Thomas rằng : cả niềm Tin lẫn lý trí đều chỉ do một Thiên Chúa duy nhất, thì chúng ta cũng phải công nhận rằng công trình của Philon, trong sự chập chững của những bước khởi đầu, đã là một bước đi can đảm, đúng đắn và cần thiết.
Chú thích
[1] Người ta cũng gọi ông là Philon d' Alexandrie hoặc Philon le Juif.
[2] Thời này, người Do Thái ở Alexandrie chỉ đọc Kinh Thánh qua bản dịch Hy Lạp, được gọi là "Bản LXX".
[3] Đây cũng là vấn đề chính yếu của triết học thời Trung Cổ. Tuy nhiên, khó có thể nói như H.A. Wolfson (trong cuốn Philo, 947) rằng : Tất cả triết lý thời Trung Cổ chỉ là một thứ "triết học mang tính chất Philon" (une philosophie philonienne). Trong thời Trung Cổ, các các phẩm của Philon rất ít được đọc. Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 455; và J Chevalier, Sđd, p. 554, note 1.
[4] Philon nói trong cuốn De Congressu eruditionis gratia. Trích lại trong J. Chevalier, Sđd, p. 554.
[5] Phương pháp này sẽ được sử dụng trong phái "ngộ đạo" (gnoticisme) và được ưa chuộng trong thời Trung Cổ.
[6] Leg. Alleg. II,1. Quod Det. post. insid. 44; trích lại trong J. Chevalier, Sđd, trang 553.
[7] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, sđd, trang 457.
[8] Theo giáo sĩ Lebreton, trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 456.
[9] Xc. Eusèbe, Praec. Evang. XI,19. Trích lại trong J. Chevalier, sđd, trang 556.
[10] Ga 1,3,14,17-18.