Bài 3: Nhóm Ionie - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Khoảng thế kỷ thứ VI tcn, những nhà thông thái đầu tiên của Hy Lạp tại miền Ionie không còn thỏa mãn với cách giải thích những hiện tượng trong vũ trụ bằng thần thoại, bằng niềm tin tôn giáo thuần túy, nên khởi sự suy tư bằng lý trí.

Chương I: Khuynh hướng Vũ Trụ Luận [1]

3

NHÓM IONIE

Khoảng thế kỷ thứ VI tcn, những nhà thông thái đầu tiên của Hy Lạp tại miền Ionie không còn thỏa mãn với cách giải thích những hiện tượng trong vũ trụ bằng thần thoại, bằng niềm tin tôn giáo thuần túy, nên khởi sự suy tư bằng lý trí.

I. VÙNG IONIE

Ionie là một địa danh nổi tiếng của thời Hy lạp cổ đại, nằm trên miền duyên hải Tiểu Á, và thuộc về đại Hy Lạp, ngày nay thuộc đất Thổ Nhĩ Kỳ. Tại đây, có 12 thành phố, trong đó có nhiều địa danh nổi tiếng như Smyrne, Phocée, Ephèse, Milet..., những thành phố này còn tiến bộ và giầu có hơn cả ở chính quốc Hy Lạp, nhờ việc buôn bán, cũng như những giao lưu về văn hóa với các nền văn hóa lớn trong vùng, như Ai Cập, đảo Crète, miền nam nước Ý.... Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tcn, Ionie là một vùng đất phát triển cao cả về kinh tế lẫn văn hóa văn hóa. Người Ionie đã đón nhận những kiến thức và sở thích về toán học, thiên văn học và y học, cũng như cả niềm tin tưởng nơi sự bất tử của linh hồn. Những người Hy lạp tại Ionie cũng đón nhận từ miền Lydie những kỹ thuật trong lãnh vực nghệ thuật (technique artistiques); đón nhận những thần thoại và những thực hành tôn giáo cổ võ việc kính thần Dyonisos; và cả toán học và thiên văn học, cũng như những bài học vỡ lòng về tinh thần luật pháp cũng như những giáo huấn khôn ngoan. đây cũng là nơi có những kiến thức thực nghiệm và kỹ thuật về hàng hải cũng như thương mại, kiến thức về việc chinh phục thuộc địa và xây dựng các đền thờ. Những điều đó khiến cho Ionie trở nên chiếc nôi đặc biệt của một nền triết học.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là tư tưởng Hy lạp chỉ hoàn toàn là do sao chép của các nền văn minh khác. Nietzsche nhận định:

Không gì phi lý cho bằng gán ghép cho dân tộc Hy lạp một nền văn hóa bản thổ. Trái lại, họ đã thâu hóa nền văn hóa sống động của các dân tộc khác; và nếu dân Hy lạp đã đi xa được đến như thế, chính là vì họ đã biết nhặt lấy ngọn thương, mà vài dân tộc khác đã để nằm yên bất động, để phóng đi xa hơn [2]

II. TRƯỜNG PHÁI MILET

Thành Milet là một thành thị thương nghiệp khá phát đạt của miền Ionie. Tại đây, mặc dù tình hình chính trị chung quanh có nhiều biến động, có những sự tranh chấp giữa những người giầu và những người nghèo, thành Milet vẫn luôn thịnh vượng và mặt kinh tế. Chính nhờ bầu không khí đó, những suy tư lý trí có tính "vô vị lợi" đã có được cơ hội để phát triển. Nhóm triết gia tại vùng đất này gồm ba triết gia đầu tiên là Thalès, Anaximandre và Anaximène.

Về nền triết học này, chúng ta nên lưu ý đến một nhận xét của Théophraste, theo đó, các nhà tư tưởng tiên phong này đã biết kết hợp với nhau thành một trường phái. Tuyệt vời hơn nữa, trong một truyền thống chung của trường phái, các môn sinh vẫn có tự do của mình; đó là hình thức kết hợp được tính tự do trong suy tư và lòng tôn trọng truyền thống đi trước. Chúng ta thấy các "triết gia đồ đệ" vừa có chung một khuynh hướng lớn với thầy, vừa luôn có những giải đáp khác với thầy mình.

Từ mối bận tâm về việc giải thích sự biến chuyển của thế giới bên ngoài con người, các triết gia này đã tìm cách giải thích sự khác biệt ấy bằng cách tạo nên một yếu tố căn bản vững bền được biến hóa nên các sự vật muôn hình vạn trạng trong thế giới.

Nói chung, yếu tố vững bền của trường phái Milet là một nguyên chất căn bản nào đó, ít nhiều mang tính chất "vật lý"; vì thế, người ta gọi họ là "các nhà vật lý" (philosophes de la nature, physiciens; hay physiologues). Tuy nhiên, những giải đáp như thế chỉ là cách thức diễn tả quan niệm về phusis hay archée, vốn tồn tại trong tâm thức lâu đời của dân Hy Lạp. Khi người ta đã lầm lẫn trong cách hiểu về phusis như là physique, người ta cũng hiểu không đúng về những triết gia này nữa [3].

Aristote gọi họ là "những nhà vật lý"; tuy nhiên, thứ "vật lý" của các triết gia đầu tiên này không giống như khái niệm vật lý của chúng ta ngày nay. Nếu tạm sử dụng từ ngữ của Aristote, chúng ta chỉ thấy tính cách "vật lý" ở chỗ các triết gia đã không đặt vấn đề "tại sao có vũ trụ?" (không đặt vấn đề nguồn gốc), nhưng chỉ muốn giải thích sự biến chuyển trong vũ trụ (chỉ đặt vấn đề sự kiện). Mặt khác tính cách "vũ trụ" ở đây cũng có nghĩa là các triết gia này đã nhìn thế giới trong thực tại cụ thể của nó chứ không còn nại đến một nguyên lý thần linh hay trình bày một cách thi phú. Ngoài hai khía cạnh đó, vũ trụ "vật lý" của các triết gia này vẫn mang đầy tính cách triết lý (chẳng hạn trực giác vạn vật đồng nhất thể); và vẫn dựa trên hậu trường tôn giáo (thiên nhiên là nơi diễn tả ý muốn của thần thánh theo một lý lẽ "hợp lý" nào đó, chẳng hạn chúng ngầm chứa nguyên lý đồng nhất).

III. MIỀN EPHÈSE

Vùng đất Tiểu Á, thời kỳ của Héraclite, có những biến động lớn. Vào khoảng năm 546, Dân Ba Tư xâm chiêm vùng này. Các thành phố thuộc đại Hy Lạp nổi lên chống lại sự cai trị của Ba Tư, và bị đàn áp dã man. Nhiều thành phố bị đốt phá, dân chúng chạy sang định cư ở miền Nam Ý. Cuộc di cư này cũng làm thay đổi bộ mặt triết lý của Hy lạp.

Riêng thành phố Ephèse, vì không tham gia tranh đấu nên được bình yên. Tuy nhiên Héraclite d' Ephèse là người chứng kiến tất cả những cảnh tang thương ấy và điều này ảnh hưởng tới quan điểm triết lý của ông. Bréhier nhận định như sau:

Héraclite đã chứng kiến những cảnh tang tóc do cuộc nội chiến ấy gây ra và có lẽ cũng vì ảnh hưởng của những ấn ượng ấy mà tư tưởng của ông mới mang một bản sắc bi quan, một hình thức phân cách và kiêu hãnh đặc sắc biểu lộ qua một lối hành văn gọn ghẽ và sáng ngời, có tính cách cách ngữ, đầy những hình ảnh huy hoàng hay quen thuộc [4]

Chính tại vùng đất này và trong những hoàn cảnh cụ thể như thế mà triết học Hy Lạp đã được sinh ra.

*****

Chú thích:

[1] Phần này, chủ yếu, dựa vào Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương I, Sđd, tr. 20-66.

[2] Nietzsche, Triết Lý Hy lạp Thời Bi Kịch, Tân An, Sài Gòn, 1975, trang 16.

[3] Jean Beaufret, trong cuốn Le Poème de Parménide viết: "Sự thật về Parménide cũng như sự thật về Héraclite vẫn con bị che dấu trong những miềm xa xăm ít được lai vãng tới và sự thật ấy cũng không hiển hiện lên cao hơn sự huyền bí của đền thờ kiểu dorique. Do đó, nói theo Nietzsche, cả tư tưởng của các triết gia trước-Socrate, cũng bị chôn vùi sâu hơn những đền thờ doriques". (Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương I, Sđd trg 3).

[4] E. Bréhier, Histoire de la Philosophie, trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 86.

Bài 4: Thalès >>