Bài 2: Triết học trước-Socrate - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Socrate là rạch phân ranh quan trọng trong thời kỳ triết học Cổ Đại, bởi vì từ Socrate, suy tư triết học bắt đầu có tính cách xác định, với các ý niệm xác định và các định nghĩa rõ ràng. Nói theo Nietzsche, Socrate khởi đầu một trào lưu triết học duy niệm.
PHẦN I
2
TRIẾT HỌC TRƯỚC-SOCRATE
I. PHÂN RANH
Socrate là rạch phân ranh quan trọng trong thời kỳ triết học Cổ Đại, bởi vì từ Socrate, suy tư triết học bắt đầu có tính cách xác định, với các ý niệm xác định và các định nghĩa rõ ràng. Nói theo Nietzsche, Socrate khởi đầu một trào lưu triết học duy niệm.
Trong khi đó, triết học trước Socrate còn chìm ngập bóng tối mập mờ của một "lịch sử bất thành văn". Các trước gia trước Socrate thường chỉ để lại những tản văn, hoặc được người khác thuật lại. Trước đây, với một quan niệm về lịch sử nặng tính cách khoa học [1], người ta thường coi nhẹ thời kỳ này. Nhưng rồi dần dần người ta hiểu được tầm quan trọng những "chứng nhân" đầu tiên của triết học; đó là khi người ta bắt đầu cảm thấy sự bế tắc, hay sự khô héo của truyền thống triết học [2]. Từ đó, người ta muốn nghiên cứu lại truyền thống xa xưa, muốn tìm lại cội nguồn của tinh thần cũng như triết lý Hy lạp; và như thế, người ta phải tìm lại thời kỳ này với một sự trân trọng.
Các triết gia trong giai đoạn này thường được gọi là những "triết gia trước-Socrate". Tuy nhiên, cũng có một vài cách gọi khác, chẳng hạn Nietzsche gọi là "trước-Platon"; và Alexos gọi là "trước-ngụy biện".
II. CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC
Nói chung, người ta có thể xếp triết học trước Socrate vào hai nhóm chính: nhóm vũ trụ luận và nhóm ngụy biện; nhóm vũ trụ luận thì tìm cách để giải thích vũ trụ, còn nhóm ngụy biện lại lấy con người làm trung tâm. Trong nhóm vũ trụ luận, người ta còn thấy có nhiều nhóm nhỏ với những khuynh hướng khác nhau. Trước hết, chúng ta thấy rằng trường phái Ionie và trường phái Nam Ý có khuynh hướng tìm một phương cách thống nhất để giải thích các hiện tượng biến thiên trong vũ trụ; ngược lại, trường phái tân vật lý thì lại cho rằng vũ trụ do nhiều nguyên tố hợp lại. Rồi chính nhóm Ionie cũng khác nhóm Nam Ý. Nhóm Ionie thì tìm giải thích trong sự trung thành với giác quan; trong khi nhóm Nam Ý lại dựa vào lý trí để giái thích bằng những ý niệm trừu tượng hơn.
1. NHÓM VŨ TRỤ LUẬN: TÌM CÁCH ĐỂ GIẢI THÍCH VŨ TRỤ.
1.1 Trường phái Ionie: trung thành với kinh nghiệm giác quan nhiều hơn.
- Nhóm Milet: với ba triết gia tiên khởi là Thalès, Anaximandre và Anaximène. Nhóm này tìm giải thích những biến dịch trong vũ trụ bằng một nguyên tố vật chất căn bản.
- Héraclite d' Éphèse: Tất cả là biến dịch
1.2 Trường Phái Nam Ý: tìm cách thống nhất vũ trụ bằng sự giải thích của lý trí, dựa vào những yếu tố trừu tượng hơn.
- Pythagore: vũ trụ là sự hài hòa theo những con số.
- Trường phái Élée: với Xénophane, Parménide và Zénon d' Élée. Nhóm này, đặc biệt nơi Parménide, cho rằng thật sự không có biến dịch, chỉ có sự trường tồn vững chắc mà thôi.
1.3 Nhóm Tân Vật Lý: với Empédocle, Leucippe, Démocrite và Anaxagore. Nhóm này cho rằng vũ trụ được cấu thành do những yếu tố nhỏ bé, bất biến, vững bền; nhưng tùy cách thức liên kết với nhau mà thành nên muôn vật.
2. NHÓM NGỤY BIỆN
Nhóm ngụy biện với hai triết gia tiêu biểu là Protagoras và Gorgias. Nhóm này tìm cách đề cao chủ quyền của con người.
III. VÀI NHẬN ĐỊNH SƠ KHỞI
1.
Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp đã làm được một chuyện rất can đảm và có ảnh hưởng rất quan trọng trong lịch sử nhân loại : suy nghĩ và tìm cách giải thích vũ trụ thiên nhiên. Để hiểu được tầm quan trọng và sự can đảm này, chúng ta phải đặt mình vào khung cảnh thời đại đó.
Với người Hy Lạp cổ xưa, cũng như với hầu hết tâm thức của các nền văn minh khác vào thời này, cái cùng kỳ lý của vũ trụ chính là thần thánh. Khi người Hy Lạp thử tìm cách giải thích điều đó bằng một suy tư của lý trí, thì thực sự họ đã cả gan bước đi một bước rất "mạo hiểm"; họ đã bước "bàn chân trần tục" vào một thế giới còn nhiều huyền bí. Burnet nhận định: "Khi thôi không kể những chuyện hoang đường nữa là lúc các nhà bác học Milet đã thực sự bước một bước tiến vĩ đại".
2.
Người Hy Lạp khởi đầu suy tư với thắc mắc về sự biến dịch. Đối với họ, thiên nhiên không được sáng tạo từ hư vô, nhưng vĩnh cửu. "Niềm tin" về thiên nhiên vĩnh cửu như thế lại gặp phải thách đố của kinh nghiệm giác quan; giác quan cho thấy rõ ràng những biến chuyển, thay đổi trong trời đất. Từ vấn nạn đó, các giái đáp triết lý đã được đặc ra. Những giải đáp của các triết gia Hy Lạp thời kỳ này, tuy rất độc đáo và bạo dạn, nhưng vẫn nằm trong một khuôn khổ được qui định bởi tâm thức dân tộc, bởi "niềm tin" nền tảng. Nói cho cùng, nếu chính vấn đề được đặt ra đã bị giới hạn trong khuôn khổ một "nền văn hóa" như thế, thì những giải đáp cũng chẳng thể đi xa hơn được. Ta có thể nói, những giải đáp ấy không thể nào bao quát toàn thể thực tại của vũ trụ và cũng chưa rốt ráo; chẳng hạn chúng chưa đặt lại vấn đề nguồn gốc vũ trụ.
3.
Tuy những triết gia đầu tiên này đã làm nên một bước tiến "vĩ đại" trong dòng suy tư chung của nhân loại. Nhưng những bước chân ban đầu, vốn đã mang tính giới hạn và tương đối như thế, lại trở thành một đường hướng, một điểm khởi đầu cho một dòng lịch sử triết học tây phương. Như thế, ta có thể đoán trước những trục trặc lớn có thể xẩy ra; chẳng hạn, một cái nhìn muốn phân tách rạch ròi của "lý trí" như thế, cũng bao hàm mối nguy làm khô cạn ý nghĩa linh động nguyên thủy về thiên nhiên.
4.
Điều có vẻ như dễ hiểu nhất đối với con người, đó là vũ trụ thiên nhiên, thật ra cũng không phải là đơn giản, trừ khi người ta đơn giản hóa nó một cách thô bạo. Quan niệm về thiên nhiên, theo cái nhìn của xa xưa, có vẻ thô sơ, nhưng lại biểu lộ một sự chiêm ngắm đầy "kính trọng" với thiên nhiên, chứ không phải là một sự mổ xẻ thô bạo. Cái nhìn phân tích thường làm cho người ta có cảm tưởng mình hiểu biết hơn; nhưng nó cũng rất dễ trở thành một cách thức hiểu biết lẻ tẻ, rời rạc, làm sai lạc sự thật.
Chú thích:
[1] Sở dĩ thời khai nguyên bị chôn vùi như thế là vì ảnh hưởng của tinh thần duy lý, duy sử và duy kiện. Heidegger viết: "Tuy không nói ra, nhưng mẫu mực được sử dụng để giải thích và thẩm định những nhà tư tưởng khai nguyên chính là triết học Platon và Aristote. Hai ông này đã được coi như hai triết gia thiết định và đem lại qui luật cho tất cả mọi triết học, bất cứ có trước hay sau họ. Lối nhìn này còn được tăng cường thêm bằng thần học Kitô giáo, nên sau cùng nó đã bị cứng đọng thành một sự tin tưởng chung mà cho tới ngày nay vẫn chưa hề bị nao núng". (Chemin qui ne mènent nulle part, b.dịch tiếng Pháp, trang 263. Trích lại trong Lên Tôn Nghiêm, Sđd, trang 4).
[2] Có học giả cho rằng thời kỳ Socrate chẳng những không phải là một bước tiến mà có thể còn là một sự trật hướng hay một bước lùi. Xc Ernest d' Aster, Hist. de la Phil. Payot 1952.