Bài 1: Đại cương về thời kỳ triết học Thượng Cổ (P3) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Cũng như các dân tộc khác, vũ trụ luận sơ khai của người Hy Lạp chìm ngập trong bầu không khí huyền thoại, đầy những chuyện "hoang đường", những câu nguyện biến ngôn.

IV. NHỮNG BƯỚC CHUYỂN MÌNH [7]

1. TỪ VŨ TRỤ LUẬN THEO THẦN LINH ĐẾN VŨ TRỤ LUẬN THEO THIÊN NHIÊN VẬT LÝ

Cũng như các dân tộc khác, vũ trụ luận sơ khai của người Hy Lạp chìm ngập trong bầu không khí huyền thoại, đầy những chuyện "hoang đường", những câu nguyện biến ngôn. Tuy nhiên, nhờ những yếu tố "thuận lợi" trong việc giao lưu giữa nhiều nền văn hóa khác nhau, người Hy lạp đã rất sớm vượt qua giai đoạn suy tư bằng tôn giáo thuần túy và bằng thần thoại, vượt qua giai đoạn tìm giải thích các biến chuyển trong trời đất bằng sự can thiệp trực tiếp của các thần, để vươn tới giai đoạn suy tư, giải thích vũ trụ bằng những yếu tố "vật lý". Ở đây, người ta còn chưa chối từ sự can thiệp của thần thánh, nhưng thần thánh không còn ẩn khuất trong bầu khí huyền nhiệm tối tăm, mà được "diễn tả" trong thiên nhiên, trong sức mạnh của thiên nhiên, trong những biến thiên của các sự vật.

2. TỪ VŨ TRỤ LUẬN THEO THIÊN NHIÊN VẬT LÝ ĐẾN VŨ TRỤ LUẬN THEO SUY TƯ TRỪU TƯỢNG

Nhưng người Hy Lạp không dừng lại ở loại suy tư này. Đà phát triển của lý trí còn thúc đẩy người Hy Lạp muốn tìm ra những qui luật phổ quát và cố định của thiên nhiên. Người ta đã nhận thấy trong những biến chuyển của trời đất có nhiều điều lập đi lập lại và thường kèm theo những biến thái tương tự nhau. Người Hy Lạp đã biết nhận ra nơi đó "qui luật" có thể giúp lý trí con người giải thích ý định của thần thánh một cách vững bền, nhất quán; giúp con người có cơ sở để khám phá ra ý muốn của thần linh, giải thích được quá khứ và đoán định được tương lai.

Những qui luật như thế mỗi ngày lại được thanh luyện để trở thành phổ quát hơn, áp dụng được cho nhiều lãnh vực hơn và cũng nhất quán hơn; do đó mà cũng trở thành trừu tượng hơn. đó là điều mà người gọi là một thứ "siêu hình học tự nhiên" của người Hy Lạp, khác với những thứ siêu hình học gắn liền với thần thánh.

Từ những bước tiến triển đó, triết lý Hy lạp được thành hình như một cái gì mới mẻ hoàn toàn đối với tôn giáo và thần thoại "cũ". đây quả là một cuộc phiêu lưu vĩ đại của tinh thần con người vào trong vũ trụ; cuộc phiêu lưu này, dù sao đi nữa, cũng là một sự can đảm và kiêu hùng của con người. Nó có thể chính là bước "rời khỏi nhà cha" của đứa con hoàng đàng; nhưng vận mệnh của lịch sử triết học tây phương sẽ khởi từ những bước đi ấy; và chúng ta, những người sống trong niềm Tin, chúng ta cũng có quyền hy vọng từ những bước đi đó, "người con ra đi" lại có thể trở về nhà Cha một cách thân thiết và sâu xa hơn hơn.

V. VÀI VẤN ĐỀ TRONG THỜI KỲ TRIẾT HỌC HY LẠP

1. TỪ NGỮ LOGOS

Nếu cần tìm một yết tố giải thích triết học Hy Lạp, có lẽ có thể tìm thấy trong ý niệm Logos, một từ ngữ căn bản của tinh thần Hy lạp. Các học giả nói rằng Logos là một từ ngữ rất khó dịch, nó là hình thức căn bản của sự hiểu biết (la parole raisonnable), là mục đích của hành động và của tư tưởng, là môt nẻo đường dẫn đến chân lý [8].

Người ta khám phá ra, trong lịch sử triết học Hy lạp, có một sự lệnh hướng mà nguyên nhân là do cách hiểu sai từ ngữ này. Từ những sai lầm ban đầu như thế, những nhận định của khoa lịch sử triết học về các triết gia Hy Lạp cũng thường bị sai lạc.

Nói chung, theo nguyên nghĩa, Logos là một sự thống nhất giữa những đối lập. Nhưng trong lịch sử nó bị hiểu thành logique, nghĩa là một sự hợp lý ở bề mặt của vấn đề.

Xin trích dẫn một số ý kiến của các học giả lớn, lấy lại trong Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương I:

* Kostas Alexos trong cuốn Vers la pensée planétaire, trang 70, viết:

Một trong những chiều kích có tính cách hệ thống xét theo phương diện triết lý hay cả phương diện kỹ thuật là chiều kích Nguyên Ngôn (Logos) biến thành Luận Lý (logique) ...

* Jaspers nói:

Logos là gì, điều đó không thể dịch ra bằng một danh từ nào khác hay định nghĩa nó bằng một khái niệm được. Logos có thể có nghĩa là: lời nói, diễn từ, nội dung của diễn từ, ý nghĩa hay lý tính, chân lý hay định luật, hoặc là chính hữu thể. Không định nghĩa được, nhưng theo Héraclite, Logos đồng thời là tất cả những nghĩa trên. Nó không mang một ý nghĩa loại trừ. Là Bao Dung Thể, logos vừa có tính cách bất định, vừa vô cùng khả định (cũng như tất cả những ý niện lớn căn bản của triết học vậy).
Bản chất hiện diện khắp nơi của Logos, đó là sự nối kết được mọi đối nghịch (...). đối nghịch là nguồn suối phát sinh ra sự sống, biến dịch là điều cần thiết cho sự sống (...).
Trong nền tảng của các sự vật, tất cả là một: "Cái khả tử là cái bất khả tử và cái bất khả tử là cái khả tử; bởi vì đời sống của những cái này là sự chết của những cái kia và đời sống của cái kia lại sự chất của những cái này". Hadès và Dionysos là một; sự chết và chiến thắng của sự sống, cả hai đều được hoan hô trong cuộc lễ cuồng say: "Chúng ta hiện hữu và chúng ta không hiện hữu".
Logos, đó là sự cộng sinh của những đối lập trong cuộc giao tranh. Nhưng người đã nghe tiếng nói của logos không thấy gì khác hơn "tất là là một".

* Heidegger nói:

"Từ Thượng Cổ, Logos của Héraclite đã được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau như: lý tính, ngôn từ, định luật của vũ trụ, như cái gì "hợp lý" và như sự tất yếu của tư tưởng, như ý nghĩa, như trí năng. Trong tất cả những nghĩa ấy, luôn luôn thấy vang lên tiếng gọi tới trí năng như là tiêu biểu và qui luật cho hành động và không hành động"
"Nhưng trí năng có thể làm gì khi nó bắt gặp với ngoại lý và phi lý, khi cả ba đều bị cột chặt trên bình diện của cùng một sư lơ là làm quên mất suy nghĩ về căn nguyên tính thể của trí năng và còn làm quên viện đi vào con đường của căn nguyên tính thể của trí năng khi nó đến với ta?".
"Chúng ta còn hy vọng gì ở luận lý học, ở Logike (épistemé) thuộc bất cứ loại nào nữa, nếu luôn luôn ta bỏ quên không chú ý tơí Logos và không theo tính thể căn nguyên của nó".

(Essais et Conférences, trang 250,

Ngoài những nghĩa trên, Heidegger con khám phá thấy một nghĩa khác nữa, đó là "Legein". Nhưng Legein là gì?

Như thế, trong hai nghĩa "nói" và "nằm", thì "nằm" có nghĩa nguyên thủy hơn, vì "một cách đích thực, legein có nghĩa là: sau khi đã tự tập trung và tập trung mọi cái khác rồi thì xuất hiện và trình diện ra". (Sđd, trg 251).

(Xc: Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học I, sđd trang trg 102-104.)

2. TỪ NGỮ PHUSIS

Theo nguyên nghĩa, Phusis có nghĩa là thiên nhiên tính, là sự tăng trưởng, là sự hình thành. Nhưng phusis đã được hiểu trong triết học Tây Phương là physique, hoặc được phiên theo nghĩa là nature. Cách thức hiểu như vậy làm biến chất ý nghĩa căn bản của thiên nhiên tính, chỉ còn bao hàm ý nghĩa cái gì có sẵn đó, cái gì đã hình thành như thế. đây cũng là một cách nhìn dễ dãi hóa của tư tường biểu tượng.

3. TRUYỀN THỐNG BI KỊCH

Như Nietzsche tố cáo, truyền thống căn bản của người Hy Lạp mang một sức sống mạnh mẽ, biểu tượng qua thần Dionysos, thần của rượu nho, của sự mê cuồng, nhưng mãnh liệt. Chính lối tư tưởng biểu tượng, thể hiện trong nhà soạn kịch Euripides và triết gia Socrate, đã giết chết tinh thần sống mãnh liệt của thần Dionysos nơi người Hy Lạp, để thay vào đó là lối suy tư triết lý bằng biểu tượng, tức hình thành một hệ thống những ngôn từ, những ý niệm song song với cuộc sống để diễn tả cuộc sống. Hệ thống song song đó dĩ nhiên làm nghèo nàn, cạn kiệt cuộc sống.

4. VẤN ĐỀ BIẾN CHUYỂN HAY TRƯỜNG TỒN

Người Hy Lạp không có quan niệm về sáng tạo, họ coi vũ trụ có từ đời đời và tồn tại đời đời. Vì thế điều làm cho họ bận tâm là vấn đề biến chuyển. Những giải pháp khác nhau của các triết gia để giải thích vấn đề biến chuyển cho thấy có một nan đề : Sự vật vừa là nó, vừa không phải là nó. Nan đề này bộc lộ một vấn đề dai dẳng trong toàn bộ lịch sử triết học Tây phương.

5. VẤN ĐỀ BIẾT VÀ SỐNG

Thời đầu, người Hy Lạp thường kể tới bẩy nhà hiền triết, tức những vị sống và biết cùng đạt tới mức độ cao. Nhưng từ khi có triết học chính thức, thì có triết gia, triết gia không phải luôn là người sống tốt nữa. Trong lịch sử Triết học Hy Lạp, người ta thừơng kể Platon và Aristote là hai triết gia lớn nhất, vì hai ông này có hai hệ thống siêu hình vững chắc, có thể giải thích hầu như tất cả các sự việc trên thế giới, còn các triết gia có đời sống luân lý hoặc thần bí tốt đẹp, mà hệ thống siêu hình nghèo nàn, thì chỉ là triết gia nhỏ. Quả thật là trong dòng lịch sử, các triết gia có hệ thống siêu hình lớn (hiểu biết) có nhiều ảnh hưởng hơn, nhưng đó cũng là ảnh hưởng trong lịch sử một thứ triết học đã thiên về tri thức nhiều hơn.

Socrate thì cho rằng tri thức tốt là sống tốt, không kẻ người gian ác cố tình mà chỉ vì ngu dốt mà thôi, liệu điều đó có đúng trong chính lịch sử triết học hy Lạp không? Đây cũng lại là một vấn đề nan giải mà ta sẽ còn thấy xuất hiện trong lịch sử triết học Tây phương.

KẾT

Với những bước tiến đặc biệt như thế, như thế, người Hy lạp đã làm được một bước tiến vĩ đại, có tầm ảnh hưởng bao la trong dòng lịch sử nhân loại, người ta coi đó là một "phép lạ Hy Lạp".

Triết học Hy Lạp đã chi phối sâu đận trên tư tưởng, và do đó, trên cuộc sống, của người tây phương. Quả thật người Âu Châu là những người con thiêng liêng của Kitô giáo và là những người con tinh thần của đất nước Hy Lạp. Hơn nữa, trong tinh thần tây phương đó, ngay cả những điều thiêng liêng cũng được diễn tả bằng ngôn ngữ của lý trí, do sự kiểm soát của lý trí. điều này làm cho nền văn minh tây phương có được những bước tiến thật dài, nhưng không phải là không có những nguy cơ hết sức nghiêm trọng...

Người ta cũng có thể nói ngược lại ra rằng tinh thần duy lý phát xuất từ bước chuyển mình đó có thể làm suy yếu và nghèo nàn sức sống uyên nguyên của người Hy Lạp cổ xưa và cũng để lại những dấu vết không thể thay đổi được nữa trong dòng tư tưởng của thế giới.

Chú thích:

[7] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương I, Lá Bối, 1971, trang 33-46.

[8] Xc. Ernest d'Aster, Histoire de la Philosophie; Payot, p.

< Xem lại phần 2

Bài 2: Triết học trước-Socrate >>