Bài 4: Thalès - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Thalès sinh tại Milet và sống vào khoảng giữa năm 640 tới năm 548. Ông là một trong 7 nhà hiền triết (sept sages) đầu tiên của Hy lạp.
4
THALÈS
(khoảng 640-548)
I. TIỂU SỬ
Thalès sinh tại Milet và sống vào khoảng giữa năm 640 tới năm 548. Ông là một trong 7 nhà hiền triết (sept sages) đầu tiên của Hy lạp [1].
Platon kể lại rằng có lần ông đi bách bộ, đầu óc đang đuổi theo những tư tưởng cao xa, và bị lọt xuống giếng, và người hầu đã cười nhạo ông. Có lẽ giai thoại này được đặt ra để chê bai những nhà triết học là những người không thực tế; và triết lý chỉ là những chuyện viễn vông. Điều đó có thể đúng, nhưng lại không đúng với Thalès. Thalès thuộc loại người thực tế; có lần, nhờ tiên đoán được mùa gặt trái dầu phong phú, ông cho xây cất và cho thuê nhiều cối ép dầu; và nhờ đó mà gầy dựng được một tài sản khá lớn.
Thalès là một nhà bác học đa tài. Ông là một nhà hình học và đã để lại một định lý hình học còn lưu danh đến hiện nay; ông biết cách đo chiều cao của ngọn tháp, đo cự ly trên biển. Thalès cũng nghiên cứu về thiên văn, dự đoán thời tiết, nghiên cứu niên lịch như xác định quỹ đạo của mặt trời từ đông chí đến hạ chí; cho thấy mặt trăng chỉ bằng 1/120 của mặt trời; qui định một tháng có 30 ngày; và nhất là ông đã tiên báo chính xác hiện tượng nhật thực ngày 28-5-585. Ngoài ra Thalès còn bàn về địa dư, chính trị và hàng hải... Từ đó, người ta đoán ông đi nhiều nơi, học được những kinh nghiệm về môn hình học với các nhà trí thức Ai Cập; học hỏi về kỹ thuật hàng hải với người Phénicie.
Nhưng hơn hết, Thalès là một nhà triết học tiên phong trong việc tìm hiểu căn bản của vũ trụ, tìm cách giải thích sự biến thiên của trời đất.
Khi ông qua đời, người ta ghi ở bia mộ của ông: "Thalès thành Milet, yên nghỉ nơi mảnh đất đã từng nuôi sống ông. Ông là nhà hiền triết đồng thời là nhà thiên văn đầu tiên của Hy Lạp".
II . TƯ TƯỞNG
Thalès không lưu lại một tác phẩm nào [2]. Câu châm ngôn mà ông ưa thích là: "Nói nhiều không phải là biểu hiện của trí tuệ". Tư tưởng của Thalès được Aristote thuật lại, nhưng có lẽ theo thuật ngữ và tâm trạng của Aristote nhiều hơn là diễn tả thật sự về Thalès.
Vũ trụ luận của Thalès có thể tóm lại trong 2 chủ đề:
- Nước là nguyên nhân chất thể của vạn vật.
- Vạn vật chứa đầy thần thánh. Nam châm là vật sống vì nó hút được sắt.
1. NƯỚC LÀ NGUYÊN NHÂN CHẤT THỂ CỦA VẠN VẬT
Aristote viết về Thalès như sau:
Người sáng lập ra trường phái triết học này, Thalès, xem nước là cơ sở đầu tiên (do đó ông ta cho rằng đất nổi ở trên mặt nước). Sở dĩ ông ta có cái nhìn như vậy có lẽ bởi vì ông quan sát vạn vật đều sinh sống từ cái ẩm ướt. đồng thời cái nóng là từ cái ẩm thấp mà ra và sở dĩ duy trì được là nhờ cái ẩm ướt (cái mà vạn vật từ đó sinh ra thì gọi là cơ sở đầu tiên của vạn vật). Sở dĩ ông ta có cái nhìn đó có lẽ là như vậy. Và cũng có thể là bởi vì bản tính của vạn vật là ẩm ướt, còn nước là nguồn gốc của những vật mà bản tính là ẩm ướt [3] .
Điểm thứ nhất chúng phải phải ghi nhận là Aristote đã sử dụng từ ngữ trong hệ thống triết học của mình để diễn tả tư tưởng của Thalès. Từ ngữ "nguyên nhân chất thể" của Aristote mang ý nghĩa thụ động, không phải là quan niệm của Thalès. Hơn nữa, trong học thuyết của Aristote, "chất thể" là tiềm thể và chỉ trở thành "hiện thể" được nhờ "mô thể"; điều này lại càng không thể có nơi Thalès được.
Học thuyết "Nước" là "chất liệu" căn bản của vũ trụ của Thalès có lẽ liên hệ, một đàng, với những nhận xét thông thường về các biến chuyển trong thiên nhiên, chứ không phải do một phân tích siêu hình như Aristote; như chính Aristote đã nhận xét "ông quan sát vạn vật đều sinh sống từ cái ẩm ướt".
Mặt khác, theo D' Aster, học thuyết này cũng có thể xuất phát từ thần thoại về thần Đại Dương Océanos, là đấng sinh ra vạn vật, cộng với những nguồn thần thoại về lũ lụt của người Chaldéo-Assyriens, cũng như niềm tin về những tầng nước trên cao của người Ai Cập.
Với những dữ kiện ấy, Thalès triển khai một cách "hiểu" cơ cấu cũa vũ trụ theo những suy tư của mình. Từ đó, ông đã dám tìm về tới yếu tố căn bản của vạn vật là "Nước".
2. VẠN VẬT CHỨA ĐẦY THẦN THÁNH
Một điểm khác nói lên sự can đảm của ông là: những người trước Thalès đều biết tới "hồn", nhưng chính ông đã lưu ý đến đặc tính năng động của hồn, và nhìn thấy "hồn" trong một chất thể căn bản của vũ trụ là nước. Ông khẳng định "vạn vật chứa đầy thần thánh", có lẽ ông cho rằng chính sự biến hóa của vũ trụ từ nước là biểu hiện của tính chất thần thánh ấy. D' Aster nhận xét về điều này như sau:
Thể chất, bản thể chính là nguyên chất ấy; nhưng ở đây, chưa có ý niệm "thụ động tính" trong ý niệm "bản thể", vì nguyên chất sơ bản này trước hết đã được tưởng tượng như linh động ("Vật hoạt luận") và lôi cuốn vào một vận hành linh hoạt (...). Cho nên cái gì linh động không có tính cách cứng nhắc và chết chóc, mà lại biến đổi và làm xuất phát từ trong mình ra cái mới mẻ. Theo nghĩa đấy, một sự vật chứa thần thánh tự nội và nó chứa đầy thần thánh cho mọi sự, chính nó đem lại cho vạn vật linh hồn và sức sống [4]
Nếu đúng như D' Aster nói, thì quả thật Thalès đã khai mào một cách giải thích thật táo bạo về thế giới; trong đó, thay vì tưởng tượng thế giới thần thánh theo kiểu nhân cách hóa, hoặc bằng thần thoại, ông nhìn thấy thần thánh ở trong lòng thiên nhiên; và ông diễn tả tính chất thần thánh qua những ý niệm trừu tượng như "nồng cốt", "động năng".
Phải chăng bước chân của triết gia Hy Lạp đầu tiên này cũng chính là bước đi chung của nền triết học này, khi mà tại đây, người ta đề cao yếu tố khôn ngoan như là khả năng chính yếu để tìm ra ý muốn của thần thánh ngay trong vũ trụ thiên nhiên?
KẾT
Aristote gọi Thalès là "Cha sinh ra triết học"; điều đó không phải là không có lý. Chính thái độ "can đảm" của ông đã mở đường cho những suy tư triết học tiếp theo, và nguyên điều đó đủ để làm cho tên tuổi của ông trở thành "bất tử".
***
Trích văn [5]
1. Theo Diogène, Thalès có những ý kiến sau:
- Thượng đế là điều cổ xưa nhất, vì không có gì sinh ra Thượng Đế.
- Điều đẹp nhất là thế giới, vì đó là công trình của Thượng Đế.
- Cái lớn nhất là vũ trụ, vì nó bao gồm tất cả.
- Điều nhanh nhất là tinh thần vì nó bàn đến mọi sự.
- Điều mạnh nhất là sự cần thiết, vì nó đưa mọi vấn đề đến tận cùng.
- Điều khôn ngoan nhất là thời gian, vì nó khám phá rất cả.
- Cái chết không khác gì với sự sống.
2. Ông còn có những ý kiến khi trả lời cho các câu hỏi như:
H. Các hành động xấu có thể dấu được các Thần Thánh không ?
T: Các ngài thấy cả những tư tưởng xấu.
H. điều gì khó nhất ?
T: Biết chính mình
H. điều gì dễ nhất ?
T: Cho người khác một lời khuyên.
H. điều gì êm dịu nhất ?
T: Vui sướng.
H. Thần thánh là gì ?
T: Không khởi đầu, không cùng tận.
H. Điều gì hiếm có ?
T: Thấy một bạo chúa cao tuổi.
H. Làm sao dễ dàng chịu đựng số phận ?
T: Nhìn thấy kẻ thù còn đau khổ hơn.
H. Làm sao sống nhân đức ?
T: Đừng làm điều gì mình trách cứ người khác.
H. Ai là người hạnh phúc ?
T: Người có sức khoẻ, giầu có, can đảm và có học thức.
3. Thalès còn có những ý kiến sau :
- Phải nghĩ tới bạn bè khi họ vắng mặt như khi họ có mặt.
- Cái đẹp không do từ khuôn mặt đẹp, nhưng do từ hành động đẹp.
- Đừng làm cách bất chính và tránh đừng để được coi là công chính vì những lời lẽ xấu chống lại người thân hay bạn bè.
- Anh đối xử với cha mẹ thế nào thì con cái sẽ đối xử với anh như vậy.
*****
Chú thích:
[1] 1/ Thalès de Milet; 2/ Pittacos de Mitylène; 3/ Bias de Priène; 4/Solon de Salamine; 5/ Cléobule de Lindos à Rhodes; 6/ Myson de Chénée; 7/ Chilon de Sparte. Xc J. Chevalier, Hist. de la pensée, Sđd trang 68.
[2] Có ý kiến lại cho rằng ông có lưu lại một tác phẩm gồm 200 câu thơ.
[3] Aristote, Siêu Hình học, q.1; chương III; trích lại trong Hà Thúc Minh, sđd, trang 13-14.
[4] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 40.
[5] Trích lại trong J. Chevalier, Sđd.pp. 68-69.