Bài 7: Héraclite d' Éphèse - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Héraclite, con của Blyson, sinh trưởng tại Ephèse, thuộc Tiểu Á, sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên.

7

HÉRACLITE D' ÉPHÈSE

{Khoảng 540-475}

I. TIỂU SỬ

Héraclite, con của Blyson, sinh trưởng tại Ephèse, thuộc Tiểu Á, sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Ông được chứng kiến cuộc tàn sát của Ba Tư đối với các thành phố Tiểu Á theo Hy lạp, đó là thời đại suy tàn của thế giới Hy Lạp do cuộc xâm lăng của Ba Tư; và đó cũng là thời điểm xẩy ra cuộc di dân vĩ đại của đám dân Tiểu Á, cùng với những trào lưu phục hưng tôn giáo. Clément d' Alexandrie nói rằng Héraclite đã thuyết phục bạo chúa Mélancomas từ bỏ quyền lực; ông khinh dể Darius, người đã gởi ông đến Ba Tư.

Héraclite sống cô đơn, tách biệt quần chúng, chỉ có một người học trò duy nhất là Cratyle. Suy diễn từ thứ ngôn ngữ cao ngạo của ông, người ta cho rằng Héraclite là người thuộc gia đình thượng lưu. Truyền thuyết kể rằng ông đã nhường quyền lợi tư tế cho em ông. Khi dân Ephèse xin ông sáng nghĩ cho họ một Hiến Pháp, thì ông chỉ trả lời: đô thị ấy đã bị chi phối bởi một Hiến Pháp quá tồi tệ.

Có lẽ Héraclite am tường triết học xưa, nhất là am tường những lý thuyết vũ trụ luận của trường phái Milet.

II. TÁC PHẨM

Tục truyền ông lưu lại một tác phẩm nhan đề là "Logos peri phuseos" và đem dâng cúng trong đền thờ thần Artémis ở Ephèse. Tác phẩm gồm toàn những tản văn, có khoảng 130 câu [1]. Ngôn ngữ của Héraclite rất đơn giản nhưng tinh vi, với nhiều cách-ngữ gợi cảm; lối hành văn của ông trào lộng, uy nghi như những sấm ngôn; ẩn sâu trong đó là một dòng tư tưởng độc đáo và huyền bí. Straton nói rằng Héraclite có biệt danh là "tối tăm".

Có lẽ Héraclite là người cảm nhận được một thứ minh triết cao sâu; ông ý thức điều đó và trình bầy nó như một tư tưởng vượt trên hết mọi tư tưởng và có khả năng soi sáng mọi sự.

III. TƯ TƯỞNG [2]

1. Tất cả đều lưu chảy /Panta rei/ hay Héraclite bị hiểu lầm

Trước hết, chính Platon, người đã học với Cratyle, ghi nhận học thuyết của Héraclite chỉ nói đến biến dịch. Cratyle cho rằng sự biến dịch rất mau lẹ, đến độ khi người ta vừa nghĩ ra ý tưởng để diễn tả nó, thì nó đã biến đổi. Do đó, Cratyle cho rằng phải diễn tả bằng cử chỉ may ra mới có thể theo kịp được đà biến chuyển của sự vật. Từ tư tưởng của Cratyle, Platon nói về Héraclite:

Tất cả mọi sự đều lưu ly, tất cả đều biến động như kiểu một dòng sông. Tất cả đều luôn luôn thay đổi, không có gì còn tồn tại cả.
Héraclite trình bày một cách rất minh triết và sâu sắc về những ý tưởng có liên quan đền thời gian tồn tục (Kronos và Rhéa). Thực ra những ý tưởng ấy đã có lâu đời với dân (Hy Lạp) chúng ta. Chính Homère đã phát biểu những ý kiến đó rồi. Nhưng Héraclite đã có công phát biểu chúng trong một công thức mỗi khi nói rằng : tất cả đều thay đổi và không một cái gì tồn tại. Rồi so sánh vạn vật (lưu chảy) với diễn tiến của một dòng sông; ông còn thêm rằng: không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông [3]

Nhưng Platon không thỏa mãn với ý tưởng này; ông đồng hóa chủ trương biến dịch với những ảo ảnh sai lạc của cõi vật giới, để đề cao chân lý vĩnh tồn trong thế giới ý tưởng của ông. Còn Aristote thì lại dùng luận lý để cho thấy sự mâu thuẫn trong học thuyết của Héraclite. Aristote phê bình chủ trương này là "cùng một sự vật vừa có vừa không một trật", như thế là nó ngược với nguyên lý bất mâu thuẫn.

Thực sự, người ta phải công nhận như Heidegger rằng, trong lịch sử, cả Héraclite và Parménide đều đã được hiểu theo ngôn ngữ của Platon và Aristote.

2. "Vạn vật đồng nhất thể" hay những cố gắng hiểu Héraclite một cách khác

Những hiểu lầm nói trên là do người ta đã hiểu Héraclite qua Cratyl; và do người ta chỉ chọn một câu trong toàn bộ những sấm ngôn của Héraclite, câu "Tất cả đều trôi chảy", và coi đó như tất cả tư tưởng của ông.

Thật ra, người ta không khó tìm thấy nhiều câu khác có lẽ căn bản hơn, diễn tả rõ hơn tư tưởng toàn bộ của Héraclite; chẳng hạn [4]:

câu 1: "Đặc điểm của minh triết là đừng có nghe ta, mà hãy nghe sấm ngôn (logos; hay thiền ngôn) của ta và hãy chủ trương rằng: vạn vật đồng nhất thể".

Câu 18: "Trong tất cả những người mà tôi được nghe lý thuyết không một ai đã có thể hiểu được rằng : minh triết là cái gì tách biệt với tất cả".

Câu 45: "Người ta không biết rằng: cái gì biến thiên lại hòa hợp với chính mình, giữa những giằng co đối lập phải có một hòa âm cũng như giữa cây cung và đây đàn".

Và những câu ấy cho thấy tư tưởng của Héraclite phong phú và sâu xa hơn nhiều.

Trước hết, chúng ta thấy Héraclite trung thành với kinh nghiệm giác quan như đường nét chung của trường phái Ionie; kinh nghiệm ấy cho thấy tất cả mọi sự đang biến đổi và biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, một thứ minh triết đích thực lại có thể thấy trong những biến chuyển ấy một mối nhất quán sâu xa. đây là một sự nhất quán trong tạp đa, trong sự tranh chấp giữa những đối nghịch. Héraclite không coi đối nghịch là một sự "bất công" như Anaximandre, nhưng chính là sự hòa điệu.

Burnet cho biết Philon đã viết về Héraclite như sau:

Vì cái gì được cấu thành từ hai đối nghịch thì cái đó là một; và nếu cái Một (nhất thể) được chia ra thì những đối nghịch được thể hiện ra. Đó không phải chính là điều người Hy Lạp gán cho Héraclite đại danh của họ sao?; điều mà Héraclite đã ghi ngay ở khởi điểm triết học của ông, như thế kết tinh được tất cả và do đó ông mới hãnh diện như một khám phá mới. [5]

Có hai khuynh hướng tìm về học thuyết "nhất quán" của Héraclite :

2.1. Giải thích theo vũ trụ luận vật lý

Cách giải thích này căn cứ trên ý niệm "lửa" là chất liệu căn bản. đó là lập trường của Burnet và Werner.

Burnet cho rằng phải hiểu Héraclite trong tinh thần vũ trụ luận của Milet; theo đó, Lửa chính là chất liệu căn bản; vì, như Héraclite đã nói, "Bất cứ sự vật gì cũng có thể biến đổi thành lửa và lửa cũng có thể biến đổi thành bất cứ sự vật gì; cũng như hàng hóa đổi lấy vàng và vàng đổi lối hàng hóa vậy".

Như thế, chính "lửa" thiêu đốt vạn vật không bao giờ ngừng nghỉ, gây nên sự biến đổi liên miên, như một triều lưu chảy xiết. Vạn vật như thể hiện một cuộc biến hành vĩ đại, trong đó "mọi sự đều lưu chảy".

Như thế, vạn vật trong vũ trụ đối nghịch nhau, nhưng chúng chỉ là nhưng biến thái (đa thể) của cùng một nhất thể căn bản. Đó là định luật (Nomos) công chính lý tưởng.

2.2 Giải thích theo Logos

Đây là lập trường của Eugen Fink, Kostas Axelos, dưới ảnh hưởng của Heidegger. Theo cách giải thích này, tất cả vấn đề nằm ở chỗ: những triết gia đi sau Héraclite đã không hiểu được Logos của ông và đã biến Logos trở thành "logique". Sự biến đổi này có một ảnh hưởng trầm trọng trong dòng lịch sử triết học tây phương.

Chính vì hiểu logos chỉ là logique, các triết gia đã không thể làm sao thống nhất được các thực tại tạp đa của vũ trụ này, và thế là người ta phải đi vào lối "tư tưởng biểu tượng"; nghĩa là dùng những khái niệm của tư tưởng thay thế những sự vật; rồi từ những khái niệm này mà tìm được một thứ "hữu thể bản thể", nằm bên dưới các sự vật cụ thể và các hiện tượng.

Vì thế, siêu hình học, khi tìm cách thoát khỏi sự đối nghịch giữa biến chuyển và trường tồn lại đã thường lâm vào những đối nghịch khác như: hữu thể và hư vô, yếu tính và phụ thể, thực tại và ảo ảnh, tri thức và đạo đức. Những điều đó lại gây nên sự phân ly không thể hòa giải giữa duy lý và duy nghiệm, duy tâm và duy thực...; rồi người ta lại phải phân chia thực tại thành những lãnh vực khác nhau như siêu hình học, đạo đức học, tâm lý học, thẩm mỹ học...; cuối cùng, ngay trong lòng mỗi lãnh vực, người ta cũng buộc phải phân chia giữa lý thuyết và thực hành và phân chia mãi.

Rồi để hoàn bị hệ thống "logique" của mình, các triết gia lại phải "sáng tạo" ra một hữu thể thần linh, nơi Ngài gồm gói tất cả một tính chất hữu thể, Ngài là hữu thể tối cao, Ngài là "đệ nhất nguyên nhân", là nguyên ủy và mẫu gương của mọi sự vật trong thế giới này. Do đó, triết học tây phương thường gồm gói những mối tương quan của thế giới trong tính chất tuyệt đối của thứ "thần học" về một "tuyệt đối thể" để giải quyết tất cả mọi sự.

Tóm lại, tư tưởng siêu hình sau Héraclite đã đào hố phân chia một bên là hữu thể "vật lý" và một bên là hữu thể "siêu vật lý" (tức siêu hình); nhất là đã phải gán cho một bên là chân lý một bên là sai lầm.

Tất cả những điều đó là một con đường lùi xa tính thể, lạc nẻo vào thế giới của những ý tưởng mang tính chất Platon, hay thế giới của những khái niệm luận lý của Aristote. Con đường đó làm cho tính cách toàn diện của một thực tại luôn biến dịch và thống nhất bị phân mảnh thành những đối nghịch và thành những thành phần tủn mủn.

Logos của Héraclite không cần đến nẻo đường xa lạ như thế; logos của ông là "lý tính", là "chân lý" hay là "hữu thể"; Logos là "bao dung thể" là "nomos", là ngôn từ... của chính thế giới này. Nó có khả năng dung hợp được chẳng những cái "logique" và cả những cái "ngoại lý" {irrationne} và phi lý {dérationnel} nữa. Logos tập trung, liên kết tất cả các hiện tượng trong một hoàn vũ duy nhất và rồi lại "phát biểu" ra với những hiện tượng ấy. Logos là linh hồn, là tinh thần của một thứ biện chứng pháp mang tầm mức hoàn vũ. Logos hiện diện ở khắp nơi và là "lý tính đại đồng".

Alexos cho rằng, với Héraclite, Logos chính là yếu tố cấu tạo, soi sáng và thể hiện thành trật tự và diễn tiến của vũ trụ.

Nói tóm lại Logos là nguyên ngôn, hay "thiền ngôn" diễn tả sự thống nhất ở căn nguyên tính thể. Logos và tiết lộ và ẩn dấu, là Aletheia {chân tính}.

KẾT

1. Lịch sử triết học thường trình bầy Héraclite với Parménide như hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau; trong đó, Héraclite thì đơn độc, chỉ có một học trò Cratyle, còn Parménide thì lại là cha đẻ của siêu hình học, với cả một hậu duệ đông đúc và phong phú; và như thế, sự "trả thù ý tưởng biến dịch" của Parménide được coi như một cuộc chiến thắng. Hégel đã phục hồi lại thế giá cho Héraclite khi thú nhận rằng tất cả những mệnh đề trong quyển Luận Lý Học của mình đều là những mệnh đề của Héraclite.

Heidegger viết: "Héraclite là người trong số các triết gia đầu tiên của Hy Lạp đã bị hiểu sai hơn hết, theo lối tư tưởng không Hy Lạp, trong dòng lịch sử tây phương; nhưng một mặt trong những thời cận đại và hiện đại, ông là người đã đẩy mạnh phong trào tìm về những gì chính cống Hy lạp nhất. Trong phong trào ấy, Hégel và bạn ông là Hõlderlin, cả hai đã bị Héraclite chi phối một cách mạnh mẽ và phong phú, nhưng mỗi người lại bị chi phối một cách khác nhau. đó là vì một đàng Hégel xây lưng lại đàng sau và bít lối đi luôn, còn Hõlderlin lại nhìn thẳng trước mặt và mở toang đường đi" [6].

2. Với những khám phá "mới", người ta đang say mê tìm lại tư tưởng đích thực của Héraclite. Quả thực, trong một tản văn ngắn ngủi của Héraclite, nhưng lại súc tích vô cùng, người ta nhận ra có quá nhiều minh triết cao sâu; và từ đó có thể triển khai những mối tương quan biện chứng, tạo nên sự thống nhất của tất cả những yếu tố trong vũ trụ sinh động, bao gồm cả những đề tài siêu hình căn bản của triết học tây phương như vũ trụ luận, nhân sinh học, thượng đế học [7] ...

Tất cả những điều đấy là một kho tàng phong phú để người ta có thể tiếp tục khai thác.

***

Trích Văn

D1. "Logos" tuy vĩnh viễn tồn tại, thế nhưng trước khi nghe người ta nói đến nó, hoặc là lần đầu tiên sau khi nghe người ta nói đến nó, đều không thể hiểu nó. Tuy rằng vạn vật đều ra đời dựa vào Logos, thế nhưng khi chúng ta dùng lời nói hoặc sự thực để phân biệt từng sự vật hoặc chỉ ra thực chất của nó thì khi thể hiện nó, người ta lại tỏ ra không có chút kinh nghiệm nào cả. Ngoài ra có một số người không hề biết việc họ làm khi họ tỉnh chẳng khác gì họ đã quên những việc họ đã làm trong lúc nằm mộng.

D2. Do đó, nên tôn trọng những cái mà mọi người đều có. Thế nhưng Logos là cái mà mọi người đều có, nhưng nhiều người lại sống mà không đếm xỉa gì đến nó, giống như họ có trí tuệ gì đặc biệt vậy.

D3. Mặt trời có chân rộng như chân của người.

D4. Nếu như hạnh phúc là khoái cảm của thể xác, thế thì khi con bò tìm được cỏ để ăn thì đó là lúc nó hạnh phúc.

D5. Người ta dùng máu con vật tế thần bôi lên người mình để tỏ ra thuần khiết. Như vậy là vô ích. Làm như vậy chẳng khác gì một người rơi xuống hố bùn lại lấy bùn để rửa ráy cho sạch. Ai trông thấy người làm như vậy đều cho là kẻ điên rồ. Họ cầu đảo thần linh chẳng khác gì họ nói chuyện với bức tường. Họ không hề biết thế nào là thần linh và anh hùng.

D6. Mặt trời mỗi ngày đều mới mẻ.

D7. Nếu như mọi sự vật đều biến thành khói thì lỗ mũi sẽ phân biệt được chúng.

D8. Những vật xung khắc lẫn nhau lại hợp thành một. Những âm điệu khác nhau hợp lại thành âm đẹp đẽ nhất. Tất cả mọi vật đều ra đời trong đấu tranh.

D9. Con lừa thà được cỏ để ăn còn hơn là được vàng.

D12. "Heo" tìm cái vui trong đống bùn.

D16. Làm sao có thể trốn tranh được cái luôn luôn không ngừng nghỉ.

D17. Đại đa số khi gặp việc gì đều không biết suy nghĩ. Cho dầu sau khi được một bài học cũng vẫn không hiểu, tuy rằng họ vẫn tự cho là họ hiểu biết.

D18. Nếu như không hy vọng về những cái chưa thể có được thì cũng không bao giờ đạt được nó, Bởi vì những việc chưa thể có là những việc rất khó nắm bắt, khó lòng đạt được.

D19. Con người không hiểu được nên nghe như thế nào, cũng không hiểu được nên nói thế nào.

D21. Chết chóc là cái mà ta trông thấy khi tỉnh. Cái mà chúng ta trông thấy trong giấc mộng là cái khi ngủ.

D22. Người đào vàng phải đào rất nhiều đất mới có được một chút vàng.

D24. Thần và người đều tôn sùng những người chết nơi chiến trường.

D25. Cái chết càng vĩ đại, nhận được phần thưởng càng lớn.

D26. Trong đêm tới người ta tự thắp một ngọn đèn. Khi con người chết lại là sống. Người ngủ say, mắt không trông thấy, họ đã được người chết thắp lên điểm sáng. Người đang tỉnh là được người ngủ thắp sáng.

D29. Người ưu tú nhất thà rằng chiếm lấy một thứ chứ không cần tất cả những thứ khác. Tức là: thà rằng được cái quang vinh bất diệt chứ không cần những cái điêu tàn. Thế nhưng đại đa số người lại nuốt lấy nuốt để giống như súc vật.

D30. Thế giới này là đồng nhất đối với hết thảy sự vật tồn tại. Nó không do bất cứ vị thần nào sáng tạo ra cũng không do bất cứ người nào sáng tạo ra. nó là một ngọn lửa sống bất diệt trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai. Nó được cháy sáng trong khoảng khắc nhất định và tàn lụi trong khoảnh khắc nhất định.

D31. Sự chuyển hóa của lửa là: đầu tiên thành biển, một nửa biển thành đất, nửa còn lại thành gió xoáy... đất hóa thành biển và tuân thủ theo Logos mà trước kia biến hóa thành đất nó đã tuân theo.

D32. Chỉ có một người là duy nhất có trí tuệ, người đó vừa tiếp nhận vừa không tiếp nhận danh hiệu thần Zeus.

D33. Pháp luật chẳng qua là phục tùng ý chí của một người duy nhất.

D35. Những người yêu thích trí tuệ cần phải biết rất nhiều thứ.

D36. Đối với linh hồn thì chết có nghĩa là biến thành nước. đối với nước thì chết tức là biến thành đất. Thế nhưng nước là từ đất mà ra, linh hồn là từ nước mà ra.

D41. Trí tuệ chỉ là: nhận thức tư tưởng mà có thể chế ngự hết thảy.

D43. Dập tắt bịnh phóng đãng còn cần hơn là cứu hỏa.

D44. Người dân nên chiến đấu cho pháp luật cũng giống như chiến đấu cho bức tường thành của mình vậy.

D45. Anh không thể tìm thấy biên giới của linh hồn đâu. Cho dầu anh có đi khắp mọi nẻo đường rộng lớn cũng không thể tìm thấy được. Gốc rễ của linh hồn sâu như vậy đó.

D47. Không nên kết luận quá sớm đối với một việc gì.

D48. Cây cung tên gọi của nó là sống, nhưng tác dụng của nó là chết.

D49. Nếu như một người nào đó là ưu tú, theo tôi thì họ có thể sánh với hàng vạn người khác.

D49a. Chúng ta vừa bước xuống vừa không bước xuống cùng một dòng sông. Chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn tại.

D50. Nếu như anh không nghe tôi mà lại nghe Logos của tôi, thừa nhận hết thảy là một, thế thì anh là người có trí tuệ rồi đấy.

D51. Họ không hiểu được tương phản, tương thành như thế nào; đối lập tạo ra hài hòa, ví như cây cung và chiếc đàn sáu giây.

D52. Thời gian là một đứa trẻ bướng bỉnh. Một đứa trẻ lại nắm vương quyền!

D53. Chiến tranh là cha của vạn vật cũng là vua của vạn vật. Nó khiến cho một số người trở thành thần, khiến cho một số người trở thành người, khiến cho một số người trở thành nô lệ khiến cho một số người trở thành tự do.

D54. Hài hòa không trông thấy được tốt hơn là hài hòa trông thấy được.

D55. Những cái mà có thể trông thấy, nghe thấy và có thể học tập đều là những cái mà tôi ưa thích.

D58. Thiện ác chỉ là một. Những ông thầy thuốc bằng nhiều cách như cắt, đốt, dằn vặt bịnh nhân nhưng lại ngửa tay lấy tiền của họ. Bọn họ không đáng được nhận tiền bởi vì cái mà họ làm cũng chẳng khác gì bịnh tật. Sau khi làm cái gọi là chữa trị thì bịnh càng nặng hơn mà thôi.

D60. Con đường lên dốc và con đường xống dốc là cùng một con đường.

D61. Nước biển là thuần khiết vừa là không thuần khiết: đối với cá thì nó có thể uống và có ích nhưng đối với người thì không thể uống và lại có hại.

D62. Cái không chết thì lại chết, cái chết thì lại không chết; cái sau chết thì cái trước sống, các trước chết thì cái sau sống.

D67a. Cũng giống như con nhện nằm ở giữa màng nhện. Chỉ cần một con ruồi đụng phải đường tơ thì con nhện lập tức phát hiện và tiến tới chỗ đó như thể là đụng đến đường tơ làm cho con nhện đau đớn không bằng. Cũng giống như linh hồn khi mà thân thể bị thương tổn nào đó thì nó cũng tiến tới chỗ đó như thể là nó không chịu được sự đau đớn của thể xác. đó là bởi vì nó có một mối liên hệ chặt chẽ với thân thể.

D76. Lửa sinh ra trong cái chết của đất. Khí sinh ra trong cái chết của lửa. Nước sinh ra trong cái chết của khí. đất sinh ra trong cái chết của nước.

Lửa chết thì Khí sinh. Khí chết thì Nước sinh.

Đất chết sinh nước, nước chết sinh khí, khí chết sinh lửa.

Ngược lại cũng như vậy.

D78. Tâm của con người không có trí tuệ còn tâm của thần thì có trí tuệ.

D79. Đối với thần thì con người là ấu trĩ, cũng giống như đối với người lớn thì con nít là ấu trĩ.

D80. Nên biết rằng, chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh. Tất cả đều sinh ra từ đấu tranh và từ tính tất yếu.

D82. Con khỉ đẹp nhất so với con người cũng rất dị hợm.

D83. Một con người trí tuệ nhất so với thần, bất luận là về mặt trí tuệ, mỹ quan hay bất cứ một mặt nào cũng đều giống như một con khỉ.

D85. Đấu tranh với trái tim là rất khó bởi vì mỗi một nguyện vọng đều được trả giá bằng linh hồn.

D86. Chúng ta còn lâu mới nhận thức được thần thánh bởi vì chúng ta chưa có lòng tin.

D87. Con người nông cạn nghe bất cứ cái gì cũng thất kinh.

D88. Trong con người chúng ta, sống và chết, tỉnh và mộng, trẻ và già trước sau cũng đều là một. Cái sau biến hóa trở thành cái trước. Cái trước biến hóa lại trở thành cái sau.

D90. Hết thảy mọi sự vật đều chuyển đổi thành lửa. lửa cũng chuyển đổi thành hết thảy sự vật. Cũng giống như hàng hóa chuyển đổi thành vàng, vàng lại chuyển đổi thành hàng hóa.

D96. Xác chết còn đáng quăng đi hơn là cục phân.

D97. Chó sủa người lạ.

D98. Linh hồn đang hôi thối trong địa ngục.

D99. Nếu như không có mặt trời, cho dù có các tinh tú khác thì cũng chỉ là đêm tối.

D100. Mặt trời là người quản lý và theo dõi thời gian. Nó xây dựng, quản lý, quy định và chỉ ra những biến thiên cũng như mọi thời tiết mùa màng.

D101. Tôi đã đi tìm tôi.

D101a. Con mắt là người làm chứng cao hơn là lỗ tai.

D102. Đối với thần tất cả đều là đẹp, thiện và ngay thẳng. Còn đối với người thì một số là ngay thẳng còn một số thì không ngay thẳng.

D103. Trên đường tròn, điểm khởi đầu và điểm kết thúc trùng hợp nhau.

D104. Tâm linh và lý trí của họ là cái gì vậy? Họ tin tưởng ở người hát rong đầu đường, lấy số đông tạp nhạp làm thầy. Bởi vì họ không biết rằng số đông là xấu, chỉ có số ít người mới là tốt mà thôi.

D.106. Mỗi ngày đều giống như ngày khác.

D.107. Đôi mắt và đôi tai là kẻ làm chứng tồi đối với con người nếu như người đó có tâm hồn đồi bại.

D108. Tôi đã nghe qua rất nhiều người nói chuyện nhưng trong số đó không một ai hiểu được rằng trí tuệ là cái khác rất xa với hết thảy mọi thứ.

D109. Che dấu dốt nát của mình có lẽ tốt hơn là bộc lộ nó ra.

D110. Nếu như mọi nguyện vọng của một người đều được thỏa mãn thì chính là không tốt cho người đó

D111. Bịnh tật khiến cho sức khỏe dễ chịu. Cái xấu khiến cho cái tốt dễ chịu. đói khiến cho no dễ chịu. Mệt mỏi khiến cho nghỉ ngơi dễ chịu.

D112. Tư tưởng là ưu điểm lớn nhất. Trí tuệ là ở chỗ nói lên được chân lý và hành động theo tự nhiên, nghe được tiếng nói của tự nhiên.

D113. Tư tưởng là cái mà mọi người đều có.

D114. Nếu như muốn nói chuyện một cách có lý trí thì nên vũ trang bằng cái mà mọi người đều có. Cũng giống như một tòa thành lấy pháp luật vũ trang cho mình, vả lại vũ trang làm sao cho vững mạnh hơn nữa. Thế nhưng mọi pháp luật của con người tồn tại đều dựa vào pháp luật duy nhất của thần. Pháp luật của thần chi phối một cách tự nhiên, thỏa mãn hết thảy, vượt lên trên tất cả.

D115. Logos là cái mà linh hồn vốn có, tự nó tăng trưởng.

D116. Người nào cũng có năng lực bẩm sinh nhận thức về mình cũng như năng lực tư tưởng.

D117. Một người uống rượu say bị một em bé dắt đi. Hắn ta chân nam đá chân xiêu chẳng biết là mình đi về đâu. đó là bởi vì linh hồn của hắn ta bị ẩm ướt.

D118. Sáng sủa, khô ráo là linh hồn trí tuệ nhất, ưu tú nhất.

D119. Tính cách của một con người là thần bảo hộ của người đó.

D123. Tự nhiên thích che giấu mình.

D124. Một thế giới đẹp nhất cũng giống như một đống rác chất chồng lộn xộn.

D125. Thức ăn hỗn hợp nếu không khuấy đều thì bản thân nó cũng phân giải.

D126. Lạnh biến thành nóng, nóng biến thành lạnh, ướt biến thành khô, khô biến thành ướt.

Trích lại trong Hà Thúc Minh

Triết Học Cổ đại Hy Lạp- La Mã

Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam,1993,

phụ lục, trang 101-121.

****

Chú thích:

[1] Bản văn này được ghi lại qua nhiều nguồn khác nhau và có một số khác biệt. Xin coi bản văn được ghi lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 147-157; Yves Battistini, Trois Présocratiques, Idées, Galimard 1968 p. 29-51; Hà Thúc Minh, Triết Học Cổ đại hy Lạp-La Mã, phụ lục, trang101-121.

[2] Những nét chính trong phần này đều dựa vào Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 114-184.

[3] Platon, Cratyle, 401d,5; 402a 8; trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd, trang 92.

[4] Trích lại theo bản văn của Lê Tôn Nghiêm.

[5] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 98.

[6] Introduction à la Métaphysique, Bd Pháp. 98, P.U.F., trang 1399 ; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sd, trang 113-114.

[7] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 115-147.

Bài 8: Hoàn cảnh nẩy sinh nền triết học Nam Ý >>