Bài 9: Trường phái Pythagore - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Pythagore là một nhân vật có nhiều huyền thoại bao quanh nên người ta khó biết được đích xác những dữ kiện lịch sử về ông.

9

Trường Phái Pythagore

PYTHAGORE

(khoảng 571-496)

I. TIỂU SỬ

Pythagore là một nhân vật có nhiều huyền thoại bao quanh nên người ta khó biết được đích xác những dữ kiện lịch sử về ông. Tiểu sử của ông được các môn đệ thuộc phái tân-Pythagore viết, dựa vào Apollonius de Tyane, một người tin rằng mình là Pythagore tái sinh, nên ông nói về Pythagore mà không cần dựa vào tài liệu nào. Tuy nhiên, người ta cũng có thể dựa vào một số tài liệu khác, của Andron, Aristote, Hérodote; những tài liệu này lại thường kể Pythagore như là một nhà pháp thuật.

Pythagore sinh tại Samos, một hòn đảo bên bờ biển Ionie thuộc Tiểu Á. Thân phụ ông làm nghề điêu khắc. Thuở thiếu thời, Pythagore là người ham tìm hiểu và được học hỏi với các danh sư về triết học, số học, thi ca, âm nhạc; thích đi chu du và học hỏi được nhiều điều [1]. Theo J. Chevalier, thầy của Pythagore là Phérécyde de Syros, một hiền sĩ đầu tiên dạy về sự bất tử của linh hồn [2].

Có lẽ Pythagore có một ảnh hưởng lớn về đời sống luân lý, sinh hoạt trí thức, cũng truyền thống đạo đức và khắc khổ tại Samos. Chính vì thế, vào khi bạo chúa Polycrate du nhập một lối sống xa hoa vào đây, ông bỏ Samos sang Croton, vào khoảng năm 530. Tại đây, ông thiết lập những đạo viện, nhằm đào luyện những người sống theo "tinh thần Pythagore", sống thanh bạch, thần bí và đầy suy tư, nhằm canh tân xã hội.

Tại Croton, ảnh hưởng của Pythagore cũng rất lớn, nhiều người theo Pythagore, có cả những người từ xa tìm đến Đạo Viện; các nhà quyền quý trong dân đều bàn hỏi với ông để tổ chức chính trị trong địa phương.

Truyền thuyết kể về Pythagore như là một người có thể làm phép lạ, là người sáng lập ra âm nhạc, là nhà toán học trứ danh đã sáng tạo ra bản cửu chương và một định lý hình học cơ bản [3]...; tuy nhiên, những điều này khó có thể xác định được chắc chắn.

Ông cũng là người tạo nên một căn bản khoa học cho ngành y. Trước đó, việc chữa bệnh còn mang đầy tính cách bí truyền; chính Pythagore đã bíến đổi y học thành một khoa học. Ông phát minh và truyền bá thuyết con số, liên quan đến trình độ tiến thoái của các chứng bịnh.

Pythagore viết nhiều sách, ít nhất là 15 quyển, hai quyển chính là Vũ Trụ Luận và Thần Ngữ Luận, nhưng không còn lại cuốn nào cả; chỉ có những lời do môn đệ nghi chép lại, nhất là nhờ bộ Kim Thi {?}, có lẽ do một người môn đệ của ông là Lysis ghi lại. Theo Hiéroclès, người đã truyền lại và chú thích Pythagore, thì sách này gồm tóm được tinh túy tư tưởng và học thuyết của Pythagore.

Ông qua đời năm 496 tại thành Metaponte (Ý). Có truyền thuyết nói rằng ông bị chết cháy, nhưng có sách nói rằng ông chạy trốn sang phía bắc, đến ở tại Métaponte, mở trường dạy học đến năm 90 tuổi mới chết.

Môn đệ tôn kính Pythagore như một vị thần, hễ nói "chính Thầy đã dậy" là mọi người tin theo. Những người trong cộng đồng Pythagore cũng gọi ông là "Người Hướng Dẫn" [le Guide] hoặc "Cha của triết học thần thánh" {Le Père de la philosophie divine}.

II. CỘNG ĐỒNG PYTHAGORE {SOCIÉTÉ PYTHAGORIENNE}

Các "đạo viện" của Pythagore được tổ chức rất chặt chẽ, và có khuynh hướng thần bí. Người muốn gia nhập đạo viện trước hết phải chịu thử thách; sau đó phải trải qua một nghi thức khai tâm. Trước lúc sát hạch để nhập đạo viện, môn sinh không bao giờ được gặp thầy. Việc đào tạo trong cộng đồng Pythagore luôn dung hòa khoa học, triết học và tôn giáo.

Người ta ghi nhận một số kỷ luật cụ thể trong trong đạo viện như sau: không được làm điều gì thái quá [vì mọi cái quá mức đều không tốt}; rượu chè say sưa, cũng như tình dục quá mức đều bị nghiêm cấm; mọi tài sản đều là của chung [4]; phải kiêng kỵ các đồ ăn về động vật và chỉ dùng rau quả ngũ cốc, gọi là "cấm nhục chủ nghĩa"; không được ăn đậu nành; không được cầu phúc cho bản thân, bởi vì chỉ có thần thánh mới biết đâu là tốt xấu để ban cho người cầu xin; không được dùng dao để kều lửa; không được để cán cân bị nghiêng; không được khiêng chung vật nặng với người khác; không được tiểu tiện về phía mặt trời; không được đi trên đường lớn; không được tùy tiện nắm tay người khác; không được nuôi chim có móng sắc...

Có lần Pythagore bị người ta rượt đuổi, đến một đám đậu, ông thà đứng lại chịu bị bắt chứ không dẫm đạp lên bãi đậu để thoát thân. Hơn 40 người khác cũng làm theo ông.

Việc đào tạo trong đạo viện được chia thành ba thời kỳ:

- Thời kỳ chuẩn bị: dạy việc thờ phượng Thượng đế;

- Thời kỳ tinh luyện: dạy cách sử đối với gia đình, bạn hữu và bản thân, tu luyện tâm trí và tu luyện thân thể;

- Thời kỳ thành đạo: dạy tự kiểm thảo, tự niệm, giác ngộ, trí tuệ và thần bí; để tinh tiến trong đường tu luyện,

Cộng đồng Pythagore, thu nhận được khá nhiều giáo đồ, phát triển nhiều nơi ở miền Nam Ý và có ảnh hưởng đến các quan chức tại các thành phố tại đây. Cộng đồng Pythagore cũng tham gia sâu rộng vào các hoạt động chính trị. Trong cuộc chiến giữa thành phố Croton và Sibarès [5], những người trong cộng đồng Pythagore tại Croton bị tàn sát hầu hết. Tuy nhiên, các cộng đồng Pythagore vẫn tồn tại suốt hai thế kỷ sau.

Sau khi Pythagore qua đời, các cộng đồng theo Pythagore vẫn phát triển và chia thành hai nhóm:

* Nhóm "khổ tu" là những người sống theo kỷ luật từ thời Pythagore, họ sống khắc khổ, kiêng cữ...

* Nhóm "bác học", chỉ lo tu luyện bằng cách học triết học và khoa học, nhất là âm nhạc.

III. LÝ THUYẾT

Cũng như các nhà tư tưởng khác thời ấy, triết học của Pythagore là một nỗ lực giải thích về vũ trụ. Tuy nhiên, bầu khí ở Nam Ý đã tạo cho những giải pháp của Pythagore mang tính cách "lý trí" nhiều hơn các triết gia ở Ionie.

Mặt khác, với Pythagore, việc tìm hiểu này trực tiếp gắn liền với mục tiêu giải thoát. Giống như các tôn giáo huyền bí, học thuyết Pythagore có mục đích giúp con người đạt tới cuộc sống hạnh phúc ở thế giới bên kia. Đây thực sự là một thứ triết học tôn giáo, chịu ảnh hưởng của các trào lưu tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo Orphisme. Chúng ta còn có thể nhận thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tiếng đàn huyền nhiệm của Orphée với tính chất hòa điệu của vũ trụ, nét chính yếu trong học thuyết Pythagore; cũng như với truỳên thuyết cho rằng Pythagore là người sáng tạo ra âm nhạc tây phương.

Một điều nữa cần lưu ý khi đề cập đến học thuyết của Pythagore: bầu khí của trường phái Pythagore. Một đàng vì Pythagore được các môn đệ tôn kính như một vị thần, nên họ dễ dàng gán cho ông tất cả những lý thuyết nẩy sinh trong dòng lịch sử của trường phái; đàng khác, vì tính chất "bí mật" trong những tập tục của đạo viện; nên người ta khó có thể phân biệt đâu là sự thực, đâu chỉ là truyền thuyết ngụy tạo.

3.1 Triết học về tôn giáo

Trọng tâm của lý thuyết Pythagore là niềm tin tưởng linh hồn bất tử và niềm khát vọng được giải thoát. Người ta nhận thấy hứng khởi triết học tôn giáo của Pythagore nằm trong một bầu khí khác hẳn với những trường phái Milet và đời sống luân lý trong thơ ca Homère. Những chủ thuyết này có phần lạc quan về đời sống, một đời sống không có lòng khát vọng trường tồn, không ước mơ về một kiếp sống hạnh phúc mai sau. Trong khi đó, học thuyết Pythagore cho thấy cuộc sống này là khổ ải; được coi như thời gian thử thách; nơi đây, người ta phải cố gắng tìm được con đường giải thoát khỏi vòng sinh tử, để trở về cùng thế giới thần thánh và đạt được hạnh phúc trường tồn.

Theo Pythagore, linh hồn là "khí". Học thuyết này đã thấy có trong trường phái Milet, nhưng được Pythagore áp dụng một cách "vật lý" hơn. Aristote nhận xét rằng: "Hình như ý kiến của những người theo Pythagore có cùng một ý nghĩa {với chủ trương của Démocrite}. Một số họ thật sự đã nói rằng linh hồn là bụi lơ lửng trong không khí".

Pythagore chấp nhận quan niệm luân hồi. Ông tin rằng linh hồn người ta, khi chưa được giải thoát, phải trải qua nhiều kiếp sống khác nhau, bị giam cầm trong những thân thể khác nhau, của con người hay con vật, vì những tội lỗi ở kiếp trước. Xénophan có viết một bài thơ kể rằng: một ngày nọ, có người đánh chó trước mặt Pythagore, ông rên rỉ và kêu lên: Thôi ! đừng đánh, vì nghe chó kêu la, ta nhận ra được linh hồn của một người bạn. Rồi khi thân xác cuối cùng tan biến, linh hồn sẽ được bay lên miền tinh tú để được hưởng cuộc sống trường sinh bất tử và tràn đầy hạnh phúc.

Để đạt được giải thoát trong cuộc sống mai sau, người ta phải cố gắng sống tiết độ, trật tự, hiền hậu trong cuộc sống này. Chính trị, tôn giáo, y học và âm nhạc đều nhằm loại bỏ tính chất cạnh tranh và bạo lực để giúp con người tìm thấy một sự hài hòa chính trực. Như thế, triết lý chính là một bí thuật giúp con người rèn luyện nhân tâm và giải thoát linh hồn ra khỏi tù ngục thể xác.

3.2 Lý thuyết về những con số

Pythagore cố gắng thấu triệt sự hài hòa này bằng cách tìm ra những tỷ số cố định của các sự vật trong vũ trụ; điều đó dẫn đến lý thuyết: bản chất vạn vật là những con số. Như thế, muốn hiểu được bản chất của thế giới, phải hiểu được bí mật của những con số, là định luật cấu tạo của vũ trụ.

* Bí mật của những con số

Aristote nhận xét về Pythagore như sau:

Vào lúc đó, thậm chí còn sớm hơn lúc đó, trường phái mà người ta gọi là Pythagore đã tiến hành nghiên cứu về con số, và cũng là người đầu tiên đề xuất môn học này. Họ sử dụng toàn bộ thời gian vào việc này. Từ đó cho rằng số học là cơ sở ban đầu của thế giới. Bởi vì con số là nguyên tố cơ bản rất tự nhiên. Do đó họ cho rằng họ đã phát hiện rất nhiều đặc điểm về con số. Những đặc điểm này rất giống với sự vật đã được sản sinh từ quá trình của tồn tại và giới tự nhiên. Những đặc điểm này còn tìm thấy nhiều hơn là trong lửa, đất hoặc nước. Cho nên họ cho rằng một trong những đặc tính của con số là chính nghĩa, đặc tính khác là linh hồn, lý tính, đặc tính nữa là cơ hội. Hết thảy những cái khác đều như vậy... còn bản thân con số thì có trước mọi sự vật trong tự nhiên. Cho nên từ đó họ suy ra rằng nguyên tố cơ bản của con số cũng là nguyên tố cơ bản của hết thảy mọi tồn tại. Họ cho rằng toàn bộ trời đất này là sự hài hòa, là những con số. [6]

Sự bí mật của những con số chi phối thế giới được Pythagore cố gắng khám phá bằng những hình tượng tiêu biểu, vừa mang tính khoa học vừa mang tính thánh thiêng; đại khái như sau:

Trong các con số đó, số 10 {La Tétractys} là biểu tượng chính của sự thánh thiêng; đó là tổng số 4 con số đầu tiên: 1+2+3+4. Con số này vừa là căn bản của các quãng hòa âm trong âm nhạc {xác định sự hòa hợp của các quãng tám, quãng năm và quãng bốn}; vừa cấu tạo nên những khái nịệm căn bản trong hình học {được nối kết với nhau lần lượt là điểm, đường thẳng, rồi mặt phẳng và hình khối}; lại cũng là khuôn mẫu cho một sự tổng hòa, theo những tỷ lệ khác nhau, tạo nên tất cả vạn vật. Các đồ đệ phải tuyên thệ theo con số này.

Diogène Laerce diễn tả quan niệm của Pythagore như sau:

Cơ sở ban đầu của vạn vật là "nhất nguyên". Từ "nhất nguyên" sản sinh ra "nhị nguyên"; "nhị nguyên" là chất liệu bất định phụ thuộc vào "nhất nguyên". "Nhất nguyên" là nguyên nhân. Từ "nhất nguyên" đầy đủ và nhị nguyên bất định sản sinh ra hàng loạt con số. Từ những con số sản sinh ra điểm, từ điểm sản sinh ra đường, từ đường sản sinh ra mặt phẳng, từ mặt phẳng sản sinh ra lập thể. Từ lập thể sản sinh ra tất cả những vật thể có thể cảm giác được, sản sinh ra bốn loại nguyên tố: nước, lửa, đất, không khí. Bốn loại nguyên tố này chuyển hóa lẫn nhau theo nhiều cách khác nhau. Liền đó sáng tạo ra thế giới có cuộc sống, có tinh thần, thế giới hình cầu, Quả đất là trung tâm, quả đất hình cầu, trên quả đất có nhiều người ở. [7]

* Học thuyết nhị nguyên

Tuy nhiên, sự tổng hòa chỉ là sự phối hợp những mâu thuẫn vốn có trong thế giới mà thôi. Theo trường phái Pythagore, trong thế gíơi vẫn có 10 cặp đối lập căn bản như sau:

Hữu hạn Vô hạn

Số lẻ Số chẵn

Một Nhiều

Bên phải Bên trái

Dương Âm

Tĩnh Động

Thẳng Cong

Sáng Tối

Thiện Ác

Chiều dọc Chiều ngang

Ngay cả khi trật tự được thiết định, vẫn luôn hiện hữu hai cực hết sức khác biệt nhau, chống đối nhau mãnh liệt; đó là một sự đối lập nền tảng giữa cái không xác định {apeiron hay l' illimité} và cái xác định {peros hay le limité}. Trong khía cạnh này, rõ ràng là Pythagore theo chủ thuyết nhị nguyên. Tính cách xác định hay giới hạn là linh hồn bất động của thế giới; nó là sự duy nhất tối cao, cuốn hút các sự vật; nó ngự trị trong trật tự và vẻ đẹp, nó chính là Thượng Đế mà các linh hồn thanh khiết khát khao được nối kết để hoàn thành vận mạng của mình.

Từ đó, trường phái Pythagore đi đến chỗ chấp nhận rằng: vạn vật cái gì cũng được cấu tạo bởi hai thành tố :

- Một là yếu tố thiết định {peros - le limité};

- Hai là yếu tố bất định {apeiron - l' illimité}.

Bất định là căn bản thể chất, còn thiết định là nguyên tắc cho trật tự và thiết định... Hirschberger nhận định về điều này như sau: "Thực vậy, nguyên tắc của sự vật từ đây sẽ không còn phải là vật chất, như từ trước tới giờ nữa, mà là mô thức. Con số chính là cái gì mang lại mô thức, vì nhờ nó mà cái bất định mới trở thành cố định" [8]. Đây là một sự thay đổi nhãn quan triết học rất quan trọng trong dòng lịch sử.

3.3 Vũ trụ

Pythagore nhận thấy có một trật tự hài hòa trong vũ trụ, biểu hiện nơi sự vận hành đều đặn của các tinh tú. Chính Pythagore là người đầu tiên đã gọi vũ trụ là "Cosmos". Ông quan niệm vạn vật tuần hoàn rồi tái hiện trong mỗi chu kỳ là "đại niên" của thế giới, một khoảng thời gian rất dài sánh với một năm thường quen, cũng giống như một ngày sánh với một giây. Tuy nhiên, đại niên như thế không hơn gì là một ngày trong đời sống vũ trụ.

Aristote phê bình học thuyết này:

Do đó, phàm những cái gì giống nhau giữa con số và sự hài hóa cũng như những cái giống nhau giữa con số và đặc tính, sự khác biệt, mọi điều an bài, họ đều tập hợp lại. Nếu như ở đó có cái gì trục trặc thì họ liền đi tìm cách thêm thắt khiến cho toàn bộ hệ thống được tròn trịa hoàn chỉnh. Ví như họ cho rằng số 10 là số vẹn toàn nhất, bao gồm hết thảy mọi con số khác. Do đó họ cũng cho rằng con số thiên thể phải là số 10. Thế nhưng chỉ có 9 cái là có thể trong thấy. Cho nên họ liền bịa ra một thiên thể nữa gọi là "đối đất". [9]

"Miền tinh tú" trên trời chính là nơi yên nghỉ của các linh hồn. Đối với Pythagore, các tinh tú có phải là hiện thân của Thượng đế không, điều đó ta khó biết chắc. Quan niệm về thượng đế của ông cũng mơ hồ. Có lẽ, trong quan điểm của triết gia, Thượng Đế phải được ta cảm nghiệm hơn là một đối tượng tri thức cho con người.

Ở đây, người ta cũng thấy dấu vết "tiếng đàn của Orphée" trong quan niệm về vũ trụ của Pythagore. Được gợi hứng từ tiết tấu của âm nhạc, ông cho rằng mỗi tinh tú vận chuyển mau chóng khác nhau, gây nên một tiếng nặng nhẹ cao thấp tùy theo tốc độ. Trong "tiểu vũ trụ", là con người, cũng giống như vậy. Những hòa âm này nhiều khi người ta không nghe thấy vì nghe quen từ nhỏ; cũng như người thợ rèn không nghe tiếng búa của mình hàng ngày đánh trên đe, đến khi dừng lại hay có thay đổi thể nào mới nghe thấy.

KẾT

Héraclite phải công nhận Pythagore là "người am hiểu nhất trong loài người"; còn Platon lại nhận xét: "Chính Pythagore đã được tôn trọng nhiều vì căn bản đời sống hướng đạo của ông. Rồi cả những môn đệ của ông, khi tổ chức sống theo Pythagore, cũng thực sự biểu thị một cái gì khác biệt với đang số những người khác" [10]. Điều đó cho thấy ảnh hưởng của Pythagore không phải là nhỏ. Với Pythagore, triết học nghiêng về phái Tây của Đại Hy Lạp, phía Nam Ý.

Tuy nhiên, học thuyết Pythagore cũng có không ít "vấn đề". Aristote phê bình học thuyết của Pythagore là "không thể giải thích nguyên nhân của vận động"; không thể giải thích "vì sao một số vật thể này nặng, một số vật thể kia lại nhẹ"...

Có lẽ chúng ta cần nhận ra nét độc đáo nơi thiên tài của Pythagore như một người tiên phong cho nền triết học tôn giáo; hứng khởi này sẽ được chứng tỏ là một nguồn mạch lớn, nếu không phải là nguồn mạch chính, trong dòng lịch sử triết học tây phương.

Chú thích

[1] Truyền thuyết kể rằng ông đã từng đến đảo Crète, Ai Cập, và học được khoa thần số... Ông bị bắt đưa đến Babylone, tại đây, ông gặp các đạo sẽ Chaldée và Ba Tư, học được các tôn giáo cổ tại đây {?}.

[2] Xc. J. Chevalier, Sđd, trang 5.

[3] A2=B2+C2

[4] Pythagore cho rằng đã là bạn bè thì mọi sự đều là của chung.

[5] Các sách triết học theo khuynh hướng Marxisme thường coi đây là cuộc chiến giữa phái "Quí Tộc chủ nô" {Pythagore và cộng đồng của ông thuộc về phe này} và phái "Dân Chủ chủ nô". Xc. Thái NInh, Triết Học Hy Lạp Cổ đại; Nxb Giáo Khoa Mác- Lê-nin, Hà Nội 1987, trang 21-24. Sự việc đại khái như sau:

Cuối thế kỷ thứ VI tcn, một nhóm người thành Sibarès bị trục xuất chay sang xin trú ngụ ở Croton và tạo nên một sự hiềm khích giữa hai thành phố ấy. Thành phố Croton thuộc quyền những người theo cộng đồng Pythagore, dưới sự lãnh đạo của tướng Milon, một lực sĩ nổi tiếng, 6 lần đoạt danh hiệu người chiến thắng tại Olympique. Thành Sibarès thì do Cyclon lãnh đạo, người trước kia đã bị Pythagore loại ra khỏi đạo viện vì tính hung bạo và bất tuân kỷ luật {?}. Hai thành phố đã nhiều lần nang quân đánh phá và tàn sát lẫn nhau. Cuối cùng, trong một trận đánh úp, phe Sibarès đã tiêu diệt được những lãnh đạo chủ chốt của phe Croton đang hội họp trong nhà Milon.

[6] Siêu Hình Học, Q. 1, ch.5, tr. 985h; D4; trích lại trong Hà Thúc Minh, Sđd, trang 27.

[7] Theo Diogène Laerce, Q.8, chương I, 1-46; trích lại trong Hà Thúc Minh, Sđd, trang 26-27.

[8] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 99.

[9] Sđd. nt. Mười thiên thể là : sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái đất, Ngân hà, "Đối Đất" hay còn gọi là "Phản Trái đất" {Gegenerde}.

[10] Platon, Rép. 600b. Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm Sđd, trang 92.

Bài 10: Xénophane de Colophon >>