Bài 12: Zénon d' Élée - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Zénon sinh tại Élée và là một môn đệ trung tín của Parménide. Ông là một người có tài hùng biện và lý luận.

12

ZÉNON D' ÉLÉE

[Khoảng 490-430]

I. TIỂU SỬ

Zénon sinh tại Élée và là một môn đệ trung tín của Parménide. Ông là một người có tài hùng biện và lý luận. Theo chứng tá của Platon, thì Zénon là một thầy giáo tài giỏi và có nhiều học trò, trong đó có những người khá tài giỏi như Pa-phô-do-rơ, Ka-li-a. Zénon cũng đóng góp tích cực vào tình hình chính trị tại quê hương mình [1]; và theo Strabon, đô thị Élée được cai trị yên ổn một phần cũng nhờ sự hướng dẫn của Zénon. Zénon còn nổi tiếng vì đã dám chống lại sự cai trị độc tài của một bạo Chúa nào đó mà hậu thế không rõ tên.

Có lẽ ban đầu Zénon cũng thuộc trường phái Pythagore như thầy của ông là Parménide.

II. TÁC PHẨM

Theo Platon [2], Zénon đã có những sáng tác từ lúc thiếu thời, gồm nhiều bài "trình bầy theo lối diễn văn", với nhiều tiết mục nhằm trình bầy những giả thuyết của những đối thủ với ông. Đó là một lối văn phản biện, gọi là aporia [3]; chính vì đó Aristote gọi Zénon là "người sáng tạo ra biện chứng pháp".

Aristote ghi nhận những chứng lý về sự "bất khả vận hành" của Zénon. Dĩ nhiên, một lần nữa, người ta cũng thấy Aristote đã trình bầy tư tưởng của Zénon trên nền tảng học thuyết của chính mình [4].

III. TƯ TƯỞNG

1. "Người sáng tạo ra biện chứng pháp"

Aristote gọi Zénon là cha đẻ của biện chứng pháp. Quả thật, với Zénon, lần đầu tiên người ta nhận thấy một học thuyết đã biết tìm cách vượt qua những thử thách của đối thủ bằng những luận chứng đầy tính cách thuyết phục. Chính lối tư tương như thế chắc chắn đã mở màn cho một tinh thần triết học với những đối nghịch tư tưởng, nét đặc trưng của nền triết học Tây Phương. Phương pháp biện chứng của Zénon gồm có những bước:

- Công nhận lập trường đối nghịch như một giả thuyết

- Làm sáng tỏ những mâu thuẫn nội tại trong chủ trương ấy

- Khi đã làm rõ chinh cách phi lý của chủ trương đối lập, thì cũng là làm sáng tỏ tính chấp hợp lý của lập trường của mình.

Thật ra, ta thấy Zénon xứng đáng hơn là ông tổ của trường phái ngụy biện.

2. Tư tưởng căn bản

Zénon là người bảo vệ học thuyết của Thầy một cách hăng hái nhất, và cũng "đíên cuồng" nhất. Tất cả nỗ lực của Zénon là nhằm minh chứng vũ trụ không hề có biến dịch. Những điều chúng ta trông thấy như biến dịch thật ra chỉ là ảo tưởng của giác quan mà thôi.

Theo truyền thống của học phái Élée, ông tìm cách minh chứng cho lập trường của mình bằng cách dùng những lý luận của tư tưởng chứ không phải những sấm ngôn "từ cõi minh triết" như những triết gia trường phái Ionie.

Zénon cố gắng đả phá quan niệm thế giới phức tạp, biến dịch, và gián đoạn do những thành phần khác nhau. Tất cả chỉ là để chứng minh hữu thể duy nhất, bất biến, trường tồn theo tinh thần của Parménide. Platon đã thuật lại lời của Zénon như sau:

Thực sự, sáng tác ấy là một sự tăng cường cho chứng lý của Parménide để chống lại những sự chế diễu của chứng lý ấy rằng : nếu thực tại chỉ là một thì chứng lý ấy chứa chấp đầy phi lý và mâu thuẫn. Sáng tác này lý luận chống lại những ai chủ trương phức thể [...]; vậy mục tiêu của nó là để trình bầy rằng : giả thuyết vạn vật là phức thể của họ hàm chứa nhiều phi lý hơn giả thuyết vạn vật là nhất thể, nếu giả thuyết này được suy diễn một cách đứng đắn. [5]

3. Những chứng lý

Người ta còn truyền lại những chứng lý của Zénon như:

3.1 Chứng lý "sự phân đôi" (La dichotomie)

Aristote giải thích: "Nhà ngươi không thể chạy tới cùng một sân vận động được. Nhà ngươi không thể vượt qua trong một thời gian một số điểm vô hạn được. Nhà ngươi bó buộc phải vượt qua một nửa một quãng đường nào đó trước khi vượt được trọn cả con đường, rồi một nửa của một nửa trước khi vượt được nửa trước. Và cứ như thế không bao giờ cùng, đến nỗi trong bất cứ không gian nào đều có một số vô hạn những điểm [đã được phân đôi], và với một thời gian có hạn, nhà ngươi không thể vượt được một số vô hạn, hết cái này đến cái khác" [6].

3.2 Lý chứng Achilles và con rùa

Aristote giải thích: "Achille sẽ không bao giờ vượt trước được con rùa. Vì trước hết, Achille phải vươn tới được vị trí khởi điểm của con rùa. Trong khi đó, con rùa đã vượt trước Achielle rồi. Achille phải đuổi kịp bước con rùa vừa vượt, nhưng khi đó con rùa lại lợi dụng thời cơ đề tiến một quãng đường xa hơn rồi. Nhưng thế Achille chỉ luôn luôn tiến gần sát con rùa" [7].

3.3 Lý chứng mũi tên bay

Aristote giải thích: "Mũi tên bay lại nằm im. Vì nếu mỗi sự vật nằm im khi nó chiếm một vị trí đồng đều với chính mình và nếu những gì bay lại chiếm một vị trí đồng đều với chính mình bất cứ lúc nào và luôn luôn như thế, thì không thể di động được" [8].

Khi ta bắn một mũi tên đến một quả táo; mỗi "khoảng khắc" thời gian và mỗi điểm trên đường bay của mũi tên là những đơn vị cơ bản, bất khả phân; nên mũi tên không thể di chuyển trong điểm và khoảng khắc đó được, nó vẫn đứng im bất động.

3.4 Lý chứng sân vận động [Le Stade]

Aristote giải thích: "Một nửa thời gian có thể bằng thời gian gấp đôi. Giả như có ba hàng sự vật, hàng một [A] nằm im bất động, còn hai hàng kia [B,C] lại di động với một tốc độ đều nhau, nhưng lại theo chiều ngược nhau. Đến khi cả ba hàng đều đã đến cùng một thành phần của vận động trường. B đã vượt qua hai lần cùng những vật thể của hàng C và A.

Như vậy, thời gian cần thiết để nó vượt qua trước một hàng C phải hai lần dài bằng thời gian cần thiết để nó vượt qua trước mặt hàng A. Nhưng thời gian mà B và C cần có để đạt được vị trí của A cũng y như thế.

Vậy thời gian gấp đôi cũng bằng một nửa thời gian" [9]

* Nét chung của nhưng lý chứng này là :

Theo nguyên tắc không gian và thời gian vật chất có thể được chia nhỏ đến vô cùng; hoặc nó được cấu thành do những yếu tố bất khả phân chia.

Trong trường hợp thứ nhất, không bao giờ người ta có thể vượt qua nổi một khoảng cách không gian vật lý nào, vì phải vượt qua vô cùng các khoảng phân chia giữa hai sự vật.

Trong trường hợp thời gian và không gian được cấu thành do những yếu tố không thể phân chia, thì sẽ không bao giờ có chuyển động thực sự. Quả vậy, nếu chúng ta tạm gọi là đơn vị bất khả phân chia ấy là "khoảng khắc"; thì khoảng khắc phải có độ dài thời gian là không; không còn có thể phân chia nó ra thành giai đoạn trước và giai đoạn sau được. Do đó, vì sự vật không thể di chuyển trong chính một khoảng khắc, nên nó cũng không thể di chuyển từ khoảng khắc này đến khoảng khắc khác.

Những điều này sẽ chuẩn bị để Aristote đưa đến một giải pháp biến dịch dựa trên căn bản thống nhất của chất thể và sự thay đổi của những mô thể khác nhau.

Tất cả những lý chứng này chỉ nhằm làm sáng tỏ tính duy nhất và bất biến của hữu thể đích thực theo tinh thần của Parménide.

4. Nhận định

1. Qua những chứng lý của Zénon, người ta có thể thấy những tiền đề đã được ông chấp nhận cách "tiên thiên".

* Lãnh vực tư tưởng cũng chính là lãnh vực thực tại.

* Khi người ta sử dụng ngôn ngữ để diễn tả một thực tại, người ta phải nghĩ ra một độ lớn của nó. Còn hữu thể thì có có thể được diễn tả cách đơn giản là : nó có, nó là.

* Vật thể thì im lìm, bất động tự nội.

2. Những minh chứng của Zénon, một đàng là những lý luận không dễ gì có thể bắt bẻ được; đàng khác lại là điều không thể nào am hợp với kinh nghiệm về thực tại được. Đó là những thách đố rất khó chịu và cũng rất khích thích những đầu óc luận lý. Do đó, trong lịch sử triết học không thiếu những tranh luận, chống đối và bênh vực đối với Zénon [10].

3. Nhưng chính sự "vững chắc" của một kiểu lý luận hết sức hợp lý trong lý thuyết đến độ trở nên hết sức "phi lý" trong thực tại như thế, thật ra, chỉ làm cho lý luận thêm kỳ cục và bất lực. Ta có thể thấy được nơi đây một bước phiêu lưu của tư tưởng, và là một bước phiêu lưu đi đến kết cục lạc đường. Người ta gọi đó là sự thất bại của tư tưởng biểu tượng.

4. Tất cả những điều đó xuất phát từ lập trường của Parménide về sự đồng nhất giữa tư tưởng với thực tại. Khi đoạn mũi tên, chẳng hạn, được bắn ra; chắc chắn nó sẽ đâm vào quả táo nằm trên đường bay của nó. Zénon nhắm mắt trước thực tại và chỉ phân tích nó trên những bản vẽ, rồi những bảo sao của bản vẽ ấy. Công việc của Zénon giống như một kẻ quay phim [bằng tư tưởng] thực tại, thế rồi ông ngồi phân tích đoạn phim ấy, thả hồn theo đoạn phim hấp dẫn ấy, đưa cuộc sống của mình vào những diễn tiến trong đoạn phim; rồi tưởng tượng ra những tình tiết phức tạp khiến không làm sao có thể đoán được kết cục của đoạn phim.

5. Quãng không gian vật chất, theo nguyên tắc, có thể được phân chia đến vô hạn; nhưng không phải nhất thiết đòi phải có một quãng thời gian vô hạn để vượt qua. Tất cả những quãng cách bé vô hạn ấy được cộng lại không thể làm nên một quãng cách lớn vô hạn đến nỗi không thể vượt qua.

6. Tuy nhiên, phải công nhận rằng những chứng lý của Zénon đã nêu lên những khúc mắc về không gian và thời gian mà đầu óc nhân lại chưa thể thấu triệt.

KẾT

Lý luận của Zénon d' Élée là bước một thứ "tiền thân" của phong trào ngụy biện. Tuy nhiên ngụy biện của Zénon lại dựa vào lý chứng của lý trí hợp luận lý. Còn ngụy biện của phái Ngụy biện sau đó lại dựa vào kinh nghiệm giác quan. Hình như cả hai con đường đều có thể đi đến bế tắc.

***

Trích văn

I. [11]

1. Nếu Nhất thể không có độ lớn, thì ngay đến việc nó có cũng không thể... Nhưng, nếu nó có thì mỗi nhất thể đều phải có một độ lớn nào đó và một bề dầy nào đó, và cùng một điều phải được nói về những gì ở trước mặt nó, vì chính nó cũng sẽ phải có một độ lớn, và một cái gì sẽ ở trước mặt nó. Nói về điều đó một lần và nói lại cũng một điều luôn mãi, đó là nói cùng một điều như nhau; vì không có một thành phần nào của nó sẽ là thành phần chót và không có một vật gì lại không được cấu kết với một vật khác,

Vậy nếu vạn vật là nhiều [tức là phức tạp], thì chúng phải vừa lớn vừa nhỏ đồng thời, nhỏ đến nỗi không còn độ lớn chi cả, và lớn đến độ phải là vô hạn.

2. Vì nếu nó được thêm vào bất cứ một cái gì khác, nó cũng không làm cho cái gì lớn hơn được; vì không một cái gì có thể thêm được độ lớn với sự cộng thêm cái gì có độ lớn. Do đó lập tức có nghĩa là cái gì được ghép thêm vào không phải là không là gì cả. Nhưng nếu khi cái này được trừ đi khỏi cái khác, cái sau cùng này cũng không phải nhỏ hơn; và đàng khác, nếu khi nó được ghép thêm vào một cái khác thì cái này cũng không được thêm chi cả, như thế rõ ràng cái gì được cộng thêm vào không phải không là gì cả, và cái gì bị trừ đi cũng không phải là không là gì cả.

3. Nếu vạn vật là phức thể, thì chúng phải phức tạp đúng y như chúng là, không hơn không kém. Nhưng nếu chúng phức tạp như chúng là, thì chúng sẽ là có số hạn.

Nếu vạn vật là phức thể, thì chúng sẽ là có số vô hạn, vì luôn luôn sẽ có thêm số giữa chúng với nhau, và thêm nữa lại sẽ có những cái khác thêm vào những cái trên đây.

Và như vậy vạn vật sẽ có số vô hạn".

II. [12]

Trong một cuộc đối thoại với Protagoras

Zénon : Protagoras hãy cho tôi biết, một hạt lúc mì hay một phần nghìn hạt lúa đó khi rơi xuống, có gây ra tiếng động không ?

Protagoras : Không gây ra tiếng động

Zénon : thế một mê-đim [13] hạt lúa mì khơi rơi xuống có gây ra tiếng động không ?

Protagoras : Có gây ra tiếng động.

Zénon : Như vậy thì giữa một hạt lúa hay một phần nghìn hạt lúa mì với một mê-đim hạt lúa mì có hay không có một quan hệ nào về số lượng không ?

Protagoras : Chúng có quan hệ về số lượng.

Zénon : Vậy thì những tiếng động lại không có những quan hệ giữa tiếng này với tiếng kia hay sao ?

Protagoras : Những tiếng động cũng có quan hệ đó.

***

Chú thích

[1] Giống như thái độ dấn thân của các triết gia khác trong trường phái Élée.

[2] Platon, Parménide, 127 d [DV. 19 A 12]; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 250.

[3] Nghĩa là những mâu thuẫn không giải quyết được.

[4] Simplicius cũng cho chúng ta biết những lý chứng của Zénon nói về Nhất Thể và Phức Thể.

[5] Platon, Parménide, 128 c [ DV. 19 A 12]; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 251-252.

[6] Aristote, Top.O.8. 100 b 8.; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 256.

[7] Aristote, Physique. Z. 9. 239 b 11; Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 256.

[8] Aristote, Physique Z, 9. 239b 30; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 257.

[9] Aristote, Physique Z 9.239 b 33. Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 258-259.

[10] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 259-268.

[11] Trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd, trang 253-254.

[12] Trích lại trong Thái Ninh, Sđd, trang 48.

[13] Mê-đim: đơn vị đo dung tích của người Hy Lạp, bằng gần 53 lít.

Bài 13: Mélissos de Samos >>