Bài 14: Empédocle d' Agrigente - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Empédocle sinh tại Agrigente, trong đảo Sicile, vào thời đại thịnh vượng của quê hương. Thuộc dòng dõi quí tộc, nhưng ông lại là người tích cực ủng hộ nền dân chủ mới của đô thị.
Chương III
Khuynh hướng dung hòa
Trong thời khai nguyên của triết học Hy Lạp, ngoài hai khuynh hướng Ionie và Élée, còn có lập trường dung hòa, nghĩa là vừa công nhận những yếu tố trường tồn, vừa công nhận có sự biến dịch trong vũ trụ.
Nhóm Éléate đã để lại một vấn đề chính yếu cho suy tư triết học : vấn đề Đơn Nhất và Đa Thể . Vấn đề này đã có trong các tríết gia Ionie, đặc biệt là nơi Héraclite; nhưng với các tríết gia Éléates, nó trở thành một vấn đề trọng tâm và vô cùng nan giải. Các tríết gia đi sau vừa phải bảo vệ sự nghiêm cẩn những qui tắc luận lý của nhóm Élée, vừa phải công nhận, trong mức độ có thể, những sự kiện hiển nhiên của kinh nghiệm.
Empédocle, Anaxagore, các triết gia theo thuyết nguyên tử và cả Platon đều phải đối đầu với vấn nạn này và coi trách nhiệm chính của mình là giải quyết vấn đề này.
Trong lập trường dung hòa, chúng ta lại thấy có hai khuynh hướng riêng : khuynh hướng "tinh thần", với Empédocle, Anaxagore; và lập trường nguyên tử với Leucippe, Démocrite.
* Khuynh hướng đề cao tinh thần
14
EMPÉDOCLE D' AGRIGENTE
{khoảng 492- 432}
I. TIỂU SỬ
Empédocle sinh tại Agrigente [2], trong đảo Sicile, vào thời đại thịnh vượng của quê hương. Thuộc dòng dõi quí tộc, nhưng ông lại là người tích cực ủng hộ nền dân chủ mới của đô thị. Ông đã từ khước không chịu làm vua, chống đối mạnh mẽ chế độ "bạo chúa". Ông chủ trương theo chế độ quân chủ, nhưng dựa trên các từng lớp bình dân, hòa hợp với một thứ "chủ nghĩa bình đẳng" [l' égalitarisme] ôn hòa.
Empédocle là một nhân vật khá đặc biệt, đa năng đa tài. Ông vừa là nhà triết học vừa là nhà chính trị; vừa là một nhà thơ vừa là người quan sát tinh tế về thiên nhiên; vừa tinh thông y khoa lại vừa là nhà giảng thuyết thiên tài [có lẽ chính ông là người đã sáng nghĩ ra nghệ thuật hùng biện]; vừa là tư tế, một nhà thần bí, có khả năng thấu thị và, theo người đương thời, ông có khả làm phép lạ. Ông còn là nhà lý luận sắc bén. Tóm lại, không có vấn đề thời đại nào xa lạ với ông.
Người ta kể rằng, thường ngày, ông mặc chiếc áo dài đỏ, viền vàng, ông đi dạo quanh thành phố; theo sau có hằng nghìn người chạy xin ông làm phép lạ chữa bệnh hay nói tiên tri. Các môn đệ của Empédocle thì tôn kính ông như một vị thần.
Lối giảng dạy của ông đầy tính cách khoa trương và kiêu căng. Ông tự cảm thấy mình có một ơn gọi thần linh và tuyên bố mình là một vị thần sống giữa những con người trần thế khả tử.
Năm 440, ông cảm thấy cần phải mở rộng lãnh vực hoạt động của mình, nên đi đến Đại Hy Lạp, bán đảo Péloponèse hoặc Sicile để rao giảng.
Quanh cuộc đời đầy huyền thoại của Empédocle, người ta thêu dệt nên nhiều truyền thuyết. Chẳng hạn, riêng về cái chết của Empédocle, cũng đã có nhiều truyện kể khác nhau :
- Có truyện kể ông đi dự lễ hội và ngã từ trên xe xuống, gẫy chân, sau đó qua đời; thọ 77 tuổi.
- Có sách lại nói, một lần kia, đang khi ông ngồi ăn với các môn đệ, thì có một tiếng động lớn từ trời, một luồng ánh sáng chiếu tỏa, rồi ông biến mất.
- Cũng có chuyện Empédocle đã từ giã thế gian bằng cách nhảy vào núi lửa Etna [Sicile]; nhằm bỏ lại thân xác trong miệng núi và linh hồn được hợp nhất với chất éther thiên quốc; để lại một chiếc dép trên miệng núi, chiếc dép có đế bằng đồng thau mà ông vẫn thường dùng.
Tuy nhiên, có lẽ cuộc đời của ông đã kết thúc trong đau khổ. Ông bị phe chủ nô quí tộc trục xuất sang bán đảo Péloponèse; ở đây ông đã viết những vầng thơ đầy nước mắt :
"Thế là giờ đây tôi đã bị thần thánh đuổi đi;
Phải sống lang thang phiêu bạt.
Căm thù, phẫn nộ,
Tôi đã khóc và đau buồn,
khi ngắm nhìn đất nước xa lạ" [3].
Ông qua đời ở đây khi 60 tuổi. Cũng có người cho rằng ông sống đến 109 tuổi [4]. Nhà thơ thần bí Holderlin có viết một bài thơ bất hủ về Empédocle.
II. TÁC PHẨM
Người ta còn lưu giữ được một phần trong hai tác phẩm bằng thơ của Empédocle:
- "Sám hối Kinh" [Les Purifications] hay {Thanh Tẩy = Katharmoi]. Tác phẩm này mang tính chất thần bí; còn lại khoảng 450 câu/5000; trong đó, người ta thấy ông theo chủ thuyết luân hồi, am hợp theo chu kỳ của vũ trụ thiên nhiên. Có lẽ Empédocle chịu ảnh hưởng của tôn giáo Orphisme.
- "Về sự Triển Nở của Vạn Vật"; tác phẩm này còn giữ lại được khoảng 10%. Chính trong tác phẩm này, người ta thấy những những chủ trương độc đáo về phương diện triết học của ông.
Tác phẩm còn giữ được của Empédocle tương đối khá nhiều, so với với các nhà triết học trước Socrate khác. Tuy nhiên, từ những dữ kiện khá phong phú này, người ta vẫn khó có thể tái lập những dường nét cơ bản trong học thuyết của ông.
III. HỌC THUYẾT
Vấn đề triết học của Empédocle vẫn là vấn đề chung của thời kỳ triết học này: tìm căn nguyên và giải thích những biến chuyển của vạn vật.
1. Nỗ lực dung hòa
Chịu ảnh hưởng của Parménide, ông cũng chủ trương vũ trụ là một thực tại tròn đầy, không sinh cũng không diệt, vì hữu thể vẫn luôn có, hoàn hảo, đồng nhất với chính mình và vững bền. Tuy nhiên, Empédocle nhận thấy rằng, khi phủ nhận vận hành và phức tạp tính của vạn vật, Parménide đã mâu thuẫn với các chứng cứ của giác quan. Empédocle tin rằng chứng cứ của giác quan là nền tảng cho mọi kiến thức được coi là hiển nhiên của ta. Do đó, ông loại bỏ những suy tư của trường phái Élée mà xét ra không thể dung hợp với kinh nghiệm giác quan: tức loại bỏ tính duy nhất [unicité] và tính bất động vĩnh cửu của hữu thể [immobilitée éternelle].
2. Căn nguyên lẽ biến chuyển của vạn vật
Trước hết, cũng như trường phái Milet, Empédocle đặt vấn đề về chất liệu nguyên thủy của vạn vật. Nhưng thay thế cho tính duy nhất của Parménide, Empédocle chủ trương có nhiều nguyên tố cơ bản mà ông gọi là những "gốc rễ" [les racines ou les racines de tout]. Như thế, ông cho rằng vạn vật không chỉ có một mà là bốn nguyên chất căn bản: Lửa, Nước, Khí, Đất; chúng là bốn căn nguyên của thực tại hay hữu thể [5].
Aristote giải thích về lập trường này như sau :
Empédocle cho rằng cơ sở ban đầu của thế giới là do bốn nguyên tố hợp thành. Ngoài những nguyên tố mà người ra đã nói trước {nước, khí, lửa}, ông thêm một nguyên tố thứ tư đó là đất. [6]
Đó là những yêu tố căn nguyên của vạn vật, chúng tồn tại vĩnh viễn, bất biến. Ngoài ra thì không có gì không nữa. Ông viết :
"Không cái gì sinh ra chúng, và ở chúng không có cái gì bị tiêu diệt.
Nếu như chúng bị tiêu vong hoàn toàn và nếu như chúng không tồn tại nữa, thì vũ trụ làm sao xuất hiện được.
Ở đâu chúng bị mất đi, thì ở đó không gian cũng chẳng còn và chúng cũng không được chứa đầy trong đó." [7]
Rồi ông giải thích tất cả mọi sự biến chuyển của vạn vật từ những nguyên tố căn bản đó; điều ta gọi là sinh trưởng của vạn vật chính là sự hoà lẫn; và điều ta gọi là sự tiêu diệt của vạn vật chính là sự tách biệt của các nguyên tố ấy mà thôi. Tất cả vạn vật, các sinh vật và cả thần linh đều do bốn nguyên tố ấy cấu tạo nên; và, thật ra, không có thực tại nào được sinh ra hay bị tiêu diệt, mà chỉ là sự hòa hợp và chia rẽ của bốn nguyên tố.
Mỗi yếu tố có tính chất riêng và bất biến; nó được quan niệm như những phân tử đồng chất trong cùng loại. Tuy nhiên, chúng có thể chuyển động và trộn lẫn với các yếu tố khác. Hình như Empédocle quan niệm vận hành hòa trộn và phân rẽ là một sự thay đổi vị trí của các chất liệu căn bản. Ông cho rằng "rất nhiều lửa đang rực cháy ở dưới đất”; còn "không khí thì bắt rễ vững chắc từ trong đất".
Những "gốc rễ" này giống như cái cọ vẽ, nó có thể vẽ nên tất cả sự phong phú của vạn vật. Với cách thức đó người ta có thể cắt nghĩa những hiện tượng trong vũ trụ mà không cần đến ý niệm sáng tạo tuyệt đối, hoặc hư vô hóa tuyệt đối.
Tuy vậy, có lúc người ta thấy Empédocle quan niệm, ngoài bốn căn nguyên ấy, còn có cái gì mang tính chất quỷ thần trong vũ trụ [?].
2. Nguyên lý chuyển động
Khác với thứ dung hòa duy của những triết gia theo thuyết nguyên tử, Empédocle cắt nghĩa nguyên lý chuyển động của vạn vật, sức mạnh thúc đẩy các chất liệu căn bản vận hành theo nhịp hòa hợp và chia rẽ bằng những yếu tố "tinh thần". Ông cho rằng chính là tình yêu [Philotès] và sự hận thù [Neikos], là nguồn sức mạnh tác động trên Lửa, Nước, Khí, Đất. Tình yêu và hận thù hoạt động trong vũ trụ cũng như trong con người; tình yêu là sức thu hút, kết hợp những điều khác nhau, làm phát sinh ra phối hợp, thúc đẩy nam nữ hòa hợp với nhau; còn hận thù lại xô đẩy, phân tán những gì khác nhau, để "co cụm" trong những điều giống nhau mà thôi.
Cảm hứng từ Héraclite, Empédocle chấp nhận một cuộc tranh chấp vĩ đại giữa tình yêu và hận thù, một cuộc tranh chấp bị chi phối tất yếu bởi một "lời thề" [serment]. Tất cả vũ trụ là một sự vận động không ngừng trong cuộc tranh đấu bất tận giữa tình yêu và hận thù.
3. Vũ trụ
Vũ trụ tuần hoàn theo bốn giai đoạn:
- Giai đoạn Một: tình yêu phối hợp được mọi chất liệu trong một hòa hợp. Vũ trụ trong thời kỳ này là một hình cầu bất động, diễm phước, không thể bị phân chia, không có phân biệt một cái gì đặc thù, điều mà Parménide đã quan niệm như hữu thể. Khi tình yêu thống trị, vũ trụ thống nhất và hoàn thiện; căm thù bị đẩy ra xa khỏi trung tâm, ở chung quanh vũ trụ hình cầu; khi đó người ta thương nhau, không giết một sinh vật nào, thậm chí không ăn thịt, con người và thú vật ăn ở hòa hợp với nhau, cây cỏ xinh tươi, hoa quả sung mãn.
- Giai Đoạn Hai: căm thù xâm nhập vào vũ trụ hình cầu ấy, dồn ép tình yêu ra ngoài và làm chia tách những yếu tố khác loại, đồng thời liên kết nhưng yếu tố cùng loại. Đó là thời kỳ hình thành những vật riêng rẽ.
- Giai Đoạn Ba: khi căm thù hoạt động đến cực độ và thống trị hoàn toàn, thì tình yêu bị loại ra khỏi trung tâm, bám ở ngoại vi vũ trụ hình cầu. Trong thời kỳ này, thực tại hay hữu thể bị phân chia trong tự nội và bốn chất lịêu căn bản cũng bị chia rẽ nhau hoàn toàn. Hận thù chỉ để cho cái giống nhau lối cuốn, hấp dẫn cái giống nhau mà thôi. Như thế, địa đàng đã biến mất, ghen ghét đã lướt thắng tình yêu.
- Giai Đoạn Bốn: Tình yêu lại khôi phục được một sức mạnh mới mẻ, vì nó lại phối hợp được các chất liệu khác loại với nhau và chia tách những yếu tố cùng loài. Lúc ấy, sức mạnh của tình yêu càng ngày càng tăng trưởng và đưa vũ trụ trở về với giai đoạn hình cầu; căm thù bị dồn ép ra ngoài vũ trụ của tình yêu.
Thế rồi chu kỳ mới lại bắt đầu.
Empédocle còn nêu lên những phỏng đoán về sự tiến hóa của giới hữu cơ; theo ông, cuộc tiến hóa diễn ra theo bốn thời kỳ như sau :
- Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ của nhưng sinh vật xuất hiện từ đất. Đó là những sinh vật đơn giản, thường có một cơ quan duy nhất.
- Thời kỳ thứ hai là thời kỳ xuất hiện nhưng sinh vật có nhiều bộ phận, tạo nên những giống kỳ quái;
- Thời kỳ thứ ba là thời kỳ tương ứng với thời kỳ thứ ba của sự thành hình vũ trụ, khi đó sinh vật mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trinh phát triển của nó.
- Thời kỳ thứ tư là thời kỳ thực vật, sinh vật và con người xuất hiện, không phải từ những yếu tố mà xuất hiện bằng cách tách rời, nhưng theo hướng nhân lên và các giống loài được phân biệt rõ ràng.
4. Tri thức
Empédocle giải thích tri thức bằng cách: những cái giống nhau hấp dẫn cái giống nhau và cái giống nhau được tri thức bởi cái giống nhau, nghĩa là trong ta có những chất liệu giống như vũ trụ, và nhờ đó mà ta biết được những sự vật trong vũ trụ. Như thế, ông cho rằng "sự sinh trưởng về lý trí của con người là theo với sự sinh trưởng của cơ thể".
Cơ năng chính yếu của tư tưởng là máu, vì máu là một sự hòa hợp hoàn hảo nhất của những chất liệu căn bản. Người thông minh thì các nguyên tố đều nhau, khoảng cách cũng không quá hẹp hoặc quá rộng; còn người ngu thì ngược lại. Như thế, ông không phân biệt nhân thức giác quan với nhận thức lý trí. Thí dụ, chúng ta nhận ra đất bằng đất, nước bằng nước và căm thù bằng lòng căm thù; tư duy và cảm giác là một. Như thế, cảm giác được chỉ đạo bởi lý trí thì mới có nhận thức đúng.
5. Thế giới tinh thần và thế giới thần minh
Ông cho rằng, trong con người, có một "linh hồn có tính cách thể xác", nhưng linh hồn ấy không phải là linh hồn đích thực và thuần túy. Cũng như Pythagore, người ông rất thán phục, Empédocle cho rằng linh hồn có bản chất thần linh.
Trong quyển Sám Hối, ông nói: người ta xưa kia là những thực tại tinh thần, sống trong diễm phúc, nhưng vì phạm tội đã bị trục xuất khỏi chốn cư ngụ thần thánh của họ và phải lang thang ba lần một ngàn năm, đầu thai với nhiều hình thức khả tử khác nhau.
Con người được giải thoát khi biết sám hối, vì nhờ sám hối mà đạt được minh triết. Lúc đó con người biết được thần minh; nhưng không bằng cách tưởng tượng thần minh có thể xác như người trần, mà bằng quan niệm thần minh như một "tinh thần thuần túy"; và con người cũng sẽ biết được định luật của thần minh thống trị thế giới.
Nhà hiền triết xuất hiện giữa nhân gian như một sứ giả từ trời xuống, rồi sau khi chết lại lên trời sống ngang hàng với các thần, được "tham gia vào nơi cư ngụ và bàn ăn của các thần bất tử, sống tự do và hưởng thụ một đời sống thanh bình diễm phúc".
KẾT
Như thế, Empédocle tạo được một sự tổng hợp khá tài tình giữa Héraclite và trường phái Élée. Trong đường hướng tríết học Élée, ông trình bầy lý thuyết như một chủ trương vạn vật là thực tại không sinh không diệt, không thay đồi, đó chính là bốn chất liệu căn bản. Chịu ảnh hưởng của Héraclite, lý thuyết của Empédocle lại là một chủ trương biến dịch với sự hoà hợp và chia rẻ theo ba giai đoạn tuần hoàn của vũ trụ, đó là sự biến dịch của bốn chất liệu căn bản. Như thế, thực tại hay hữu thể thường hằng cũng có biến dịch, vận hành. Do đó, đơn nhất của vạn vật đồng thời cũng có tính cách tạp đa.
Ngoài ra, Empédocle còn là nhà thiên văn. Ông cho rằng sở dĩ mặt trăng sáng là do phản quang ánh sáng của mặt trời. Ông đã biết giãi thích đúng đắn về hiện tương nguyệt thực. Mặt trời, theo ông cũng chỉ là một khối khoáng thạch. Ông cũng được Aristote coi là người sáng lập khoa tu từ học.
Chú thích
[1] Le problème de l' Un et du Multiple.
[2] Đúng hơn là tại Acragas, thuộc miền Agrigente, trong đảo Sicile. Nên người ta cũng gọi ông là Empédocle d' Acragas.
[3] Trích lại trong Thái NInh, Triết Học Hy Lạp Cổ Đại, nhà xuất bản sách Giáo Khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1987, tr. 61.
[4] Xc. Hà Thúc Minh, Sđd, trang 42.
[5] Câu b; 1,v.18; Arisote, Méta. I,4, 985a, 31 -b,2.
[6] Mét. Q.1, chương 3, tr 984a, D28, trích lại trong Hà Thúc Minh, Sđd, trang 42.
[7] Trích lại trong Thái NInh, Triết Học Hy Lạp Cổ Đại, nhà xuất bản Sách Giáo Khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1987, tr.62.