Bài 16: Leucippe d' Abbdère - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Người ta biết rất ít về Leucippe. Épicure còn khẳng định không có nhân vật nào tên Leucippe cả. Leucippe được biết đến là nhờ người môn đệ nổi danh của ông là Démocrite. Cũng thế, người ta chỉ biết về học thuyết nguyên tử của ông qua Démocrite, qua những lời kể lại của những người đồng thời hoặc qua một vài trích dẫn trong các tác phẩm khác. Dù sao Leucippe cũng được coi là người sáng lập trường phái Abbdère với học thuyết nguyên tử.

* Học thuyết Nguyên Tử

Trường phái Abbdère [Démocrite và có thể Leucippe cũng sinh ở Abbdère] là một thành tựu đang kể của triết học Hy Lạp, không phải xét như một lập trường dung hòa cho bằng do chủ trương duy cơ và “duy vật” đầu tiên trong lịch sử.

16

LEUCIPPE D' ABBDÈRE

{Khoảng 500-440}

I. TIỂU SỬ

Người ta biết rất ít về Leucippe. Épicure còn khẳng định không có nhân vật nào tên Leucippe cả. Leucippe được biết đến là nhờ người môn đệ nổi danh của ông là Démocrite. Cũng thế, người ta chỉ biết về học thuyết nguyên tử của ông qua Démocrite, qua những lời kể lại của những người đồng thời hoặc qua một vài trích dẫn trong các tác phẩm khác. Dù sao Leucippe cũng được coi là người sáng lập trường phái Abbdère với học thuyết nguyên tử.

Leucippe sinh tại Abbdère [1], nằm giữa biên giới Thrace và Macédoine. Théophraste cho rằng Leucippe thuộc về nhóm Éléate và là học trò của Parménide. Nếu quả thực Leucippe có biết Parménide và là bạn học của Zénon, thì có lẽ ông sống cùng thời với Mélissos, Anaxagore và Empédocle.

Trong một tác phẩm của Mélissos, người ta thấy những đoạn bút chiến giữa mélissos với Leucippe.

Aristote và Théophraste coi ông là tác giả thuyết nguyên tử. Dù sao đó cũng là một thành công lớn của Leucippe.

II. TÁC PHẨM

Người ta không lưu giữ được tác phẩm nào của Leucippe cả. Aristote cho rằng ông viết tác phẩm "Trật tự của đại thế giới" [Grand Diakosmos] và cuốn "Bàn về lý tính".

III. HỌC THUYẾT

Có một truyền thống lâu dài, phát xuất từ Aristote, coi học thuyết nguyên tử là kết quả của một ước muốn thuần túy và đơn giản nhằm hòa hợp giữa trường phái Élée với những dữ kiện khả gíác. Chắc chắn rằng tất cả những triết gia đi sau trường phái Élée đều bận tâm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, cho dù điều đó là mối bận tâm duy nhất của trường phái nguyên tử đi nữa, chúng ta cũng thấy rằng việc “dung hòa” cũng có "năm bẩy đường", như chúng đã thấy trong lập trường của Anaxagore và Empédocle; và lập trường nguyên tử không phải là không có nét độc đáo riêng.

1. Lập trường của học phái nguyên tử

Cùng chịu áp lực của trường phái Elée, Leucippe cũng chấp một thứ hữu thể vững bền và bất khả phân chia; nhưng có lẽ ảnh hưởng trực tiếp đối với Leucippe là lập trường của Empédocle về nhiều nguyên tố căn bản. Do đó, hữu thể trường tồn và bất khả phân chia của Parménide được Leucippe áp dụng cho những nguyên tố căn bản của vũ trụ, gọi là những nguyên tử [atomes]. Nét độc đáo riêng của học thuyết này là : các nguyên tử có tính chất tự chuyển động và chuyển động liên tục.

Phương cách ấy tạo nên một lập trường “duy cơ” và “duy vật” đầu tiên trong lịch sử; ngay cả thần minh cũng chỉ là những nguyên tử vật chất mà thôi. Nhìn trong dòng lịch sử, ta phải công nhận rằng đây là một lập trường quá táo bạo và cũng rất độc đáo.

2. Nguyên tử

Nguyên tử là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia, vô hạn về số lượng và vô hạn về hình thức. Chúng là những hạt vật chất vô cùng bé nhỏ, không thể nhìn thấy, không thể chia cắt, không có chất lượng, chỉ khác nhau về kích thước và hình dáng [2].

Nguyên tử là căn nguyên của mọi dạng vật chất. Mọi sự vật đều do sự kết cấu của những nguyên tử theo cách thức khác nhau và tạo nên những sự vật khác nhau.

Aristote trình bầy khá rõ ràng về Leucippe như sau :

Tuy nhiên, Leucippe nghĩ rằng mình có một lý thuyết phù hợp với giác quan mà không tiêu hủy sự sinh sản, sự hư hoại, sự chuyển động, cũng không nhân bội hữu thể. Ông áp dụng những điểm này vào những sự vật hữu hình [apparences] của cảm giác. Đối với những người chủ trương đơn nhất, ông nói với họ rằng không thể có chuyển động mà không có quãng không, không thể nói rằng quãng không là không hiện hữu; [cũng thế, không thể nói về hữu thể rằng không có cái gì là không, bởi vì hữu thể đúng nghĩa là hữu thể đầy tràn [être-plein]. Tuy nhiên, một hữu thể như thế không phải là đơn nhất [duy nhất], nhưng có vô số. Và những hữu thể như thế ta không thể nhìn thấy vì khối lượng của chúng nhỏ bé. [3]

Như thế, với ý niệm tríết lý về tính bất khả phân chía [atomicité], Leucippe đã loại bỏ những tính chất “tinh thần” hay “thiêng liêng” khác, để khám phá ra chủ thuyết duy cơ trọn vẹn.

3. “Hư vô”hiện hữu

Để các nguyên tử có thể cấu tạo nên những sự vật khác nhau, Leucippe đi đến một lập trường không kém độc đáo, ông cho rằng các nguyên tử được tách biệt nhau do quãng không. Quãng không, bên cạnh hữu thể, là một thứ “vô thể” có thực [non-être réel]; nghĩa là có cái trống không [le vide], và vũ trụ không phải là một khối dầy đặc. Chính chân không hay "không gian rộng" là điều kiện để nguyên tử có thể di chuyển và phân biệt rõ kích thước của các sự vật. Aristote viết : "Leucippe và bạn của ông là Démocrite, chấp nhận cái "đầy tràn" {le plein} và cái "trống không" {le vide} như những yếu tố [căn bản]; và ông gọi chúng là "hữu thể" {être} và "phi-hữu-thể" {le non-être}" [4]. Như thế, vũ trụ vừa là phi thực tại [non-réalité], vừa là thực tại [réalité]; và đó là chỗ mà Leucippe đã góp phần sửa chữa lại cho trường phái Elée. Aristote nói tiếp về điều ấy như sau :

Và những hữu thể di động trong quãng không, bởi vì quãng không hiện hữu; và khi chúng tụ hợp lại với nhau, chúng làm nên sự sinh sản, và khi chúng tách biệt nhau, thì làm nên sự hư hoại. Một khía cạnh khác, về điều thực sự là đơn nhất, không thể bao giờ nẩy sinh ra tạp đa; cũng như cái tạp đa không thể nẩy sinh ra đơn nhất; đó là những điều không thể được. [5]

4. Vũ trụ

Theo Diogène laerce, Leucipe còn cố găng mô tả sự hình thành vũ trụ theo hình thức duy cơ : ông cho rằng, vũ trụ được cấu tạo do những cơn lốc quay tròn của các nguyên tử. Trong cơn lốc xoáy đó, các nguyên tố cùng loại hợp với nhau; những nguyên tử có kích thước lớn tụ lại ở trung tâm, tạo nên quả đất; những nguyên tử nhỏ, dạt ra ở ngoại biên, tức là vùng trời; một số nguyên tử chạy nhanh, nên bị cháy, tạo nên các tinh tú. Đây là một thuyết địa tâm.

Do đó, "không có sự vật nào phát sinh cách vô cớ, mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào ấy, và do tính tất nhiên".

IV. KẾT

Có lẽ trường phái nguyên tử biểu lộ một sự trung thành với cách đặt vấn đề của Ionie, thuộc Á Châu, khác với cách dung hòa của Anaxagore va Empédocle của truyền thống Tây phương.

Leucippe là người sáng lập học thuyết nguyên tử, nhưng tất cả sự nghiệp của học phái lại bị bao trùm trong một nhân vật nổi tiếng khác là Démocrite.

___________________________________

Chúng ta nhớ rằng Empédocle vá Anaxagore đồng ý với Parménide rằng điều gì có khởi đầu thì chỉ là hữu thể giả [faux-être]: đó chỉ là một sự đặt bên nhau [com-position] [Empédocle], hay đặt cạnh bên nhau [Juxtaposition] [Anaxagore] của những sự vật đã có trước. Tuy nhiên, ngược lại với Parménide, cả Anaxagore và Empédocle chấp nhận sự tạp đa về phẩm [bốn yếu tố của Empédocle, vô số vật thể của Anaxagore]. Thế mà, những tính chất tạp đa này thêm vào cho

Chú thích

[1] Cũng cho người cho rằng ông sinh tại Élée hay Milet.

[2] Chắc chắn khẳng định này là do tính chất phân chia đến vô cùng của sự vật, được Zénon làm nổi bật lên

[3] De Genneratione et corruptione, I,8, 324a 34-36. Trích lại trong Grenet, Sđd, trang 51-52.

[4] Aristote, Métaphysique, Aa, 985 b4; trích lại trong P.B. Grenet, Sd, trang 52.

[5] Nt

Bài 17: Démocrite d' Abdère >>