Bài 18: Xã hội Athènes - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Sau những chiến thắng lẫy lừng trước quân Ba Tư [2], cộng với một tài lãnh đạo tuyệt với của Périclès [3], Athènes trở nên là một thành phố phồn thịnh. Nhờ biến các chiến thuyền trở thành thương thuyền, việc buôn bán trở nên sầm uất; nhờ giao lưu với các nền văn hóa khác, Athènes trở thành nơi đô hội, qui tụ được mọi tinh hoa của thế giới Hy lạp. Athènes khi ấy là một trung tâm chính trị, trung tâm văn hóa, và nhiều người từ khắp nơi đổ về.
Chương IV
Khuynh hướng "Nhân Sinh Quan"
18
XÃ HỘI ATHÈNES
Thời triết gia ngụy biện và socrate
I. HOÀN CẢNH XÃ HỘI [1]
Sau những chiến thắng lẫy lừng trước quân Ba Tư [2], cộng với một tài lãnh đạo tuyệt với của Périclès [3], Athènes trở nên là một thành phố phồn thịnh. Nhờ biến các chiến thuyền trở thành thương thuyền, việc buôn bán trở nên sầm uất; nhờ giao lưu với các nền văn hóa khác, Athènes trở thành nơi đô hội, qui tụ được mọi tinh hoa của thế giới Hy lạp. Athènes khi ấy là một trung tâm chính trị, trung tâm văn hóa, và nhiều người từ khắp nơi đổ về.
1. Chính Trị
Nhờ những điều kiện thuận lợi về kinh tế, phong trào dân chủ tại Athènes cũng phát triển mạnh. Có lẽ đây là nơi đầu tiên áp dụng chế độ chính trị dân chủ, trong đó, quyền của người dân, không phân biệt giầu nghèo, được đề cao; và, xét chung, mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy còn có nhiều giới hạn [4], nhưng nền dân chủ tại đây thực sự đã là một bước tiến bộ rất lớn lịch sử.
Khi mọi người đều có quyền tham chính và có quyền đóng góp ý kiến của mình vào quyết định chung của quốc gia, thì người ta cũng trở nên đam mê chính trị và những cuộc bàn cãi chính trị ở khắp nơi.
2. Văn hóa
Périclès, trong thời đại của mình [445-429], đã muốn Athènes có được một lực lượng trí thức mạnh mẽ, ông chấp nhận cho nhiều học giả bên ngoài được nhập tịch vào Athènes. Một số đông các nhà trí thức từ khắp nơi đổ về tìm đất sống nơi thành phố sung túc và giầu có. Thể chế dân chủ tạo điều kiện thuận lợi cho những cuộc tranh luận về nhiều lãnh vực, nhất là triết học và chính trị. Trong bầu không khí dân chủ và cạnh tranh ấy, những những học giả phải tìm mọi cách để thi thố tài năng, và như thế, hình thành một trào lưu mà sau này Platon gọi là những nhà ngụy biện; trong số đó có những người nổi danh như Protagoras, Gorgias, Criton, Agathon ...
3. Xã Hội
Về mặt xã hội, khi tình trạng văn minh phát triển, nhu cầu xã hội trở nên tinh tế, phức tạp và cao xa hơn, thì những người có nghề chuyên môn riêng biệt sẽ được trọng dụng. Xã hội do đó dần dần trở thành một xã hội phân công, mỗi người dân phải tập trung vào những ngành nghề của mình và chỉ biết ngành chuyên môn của mình mà thôi.
4. Hậu Quả
Dưới thời Périclès, sự hưng thịnh của quốc gia cùng với uy tín của ông là một sự bảo đảm cho thể chế chính trị cũng như những giá trị tinh thần truyền thống. Khi Périclès mất, Cléon, một con người thủ đoạn và mưu mẹo, đã không thể thu phục lòng dân và những bất ổn, những xáo trộn chính trị xuất hiện : quần chúng chống lại quân đội và phe quí tộc; những âm mưu đảo chính do sự tranh chấp giữa các đảng phái ...
Mặt khác, trong thời "hậu chiến", khi mà hào khí chiến thắng mỗi ngày mỗi nguội đi, các vấn đề mới xuất hiện. Dân Athènes say mê với những thành quả mới của chế độ dân chủ và nghi ngờ những giá trị cổ truyền. Nhiều người "giầu mới" lao vào cuộc sống phóng đãng. Những người "thủ cựu" thì cảm thấy xao động. Athènes đã chiến thắng vẻ vang trong cuộc chiến quân sự, nhưng lại tỏ ra lúng túng và không hoàn toàn thành công trong thời kỳ kiến thiết. Sự bất ổn thể hiện ngay trong chính mối mâu thuẫn nội tại của xã hội, giữa một bên là quyền công dân được mở rộng; và bên kia là sự yếu kém và khả năng "chính trị". Người dân được quyền tham dự vào các vấn đề chung, những lại chỉ biết đến ngành chuyên môn của mình; người dân được quyết định những vấn đề thuộc vận mệnh quốc gia, nhưng lại bị mê hoặc bởi những kẻ khéo nói và không thể tin vào khả năng, vào suy nghĩ của mình.
II. NHÓM "NGỤY BIỆN"
1. Tên gọi
Danh từ "sophia" trước tiên có nghĩa là sự khéo léo thủ công; sau đó, nó chỉ sự khéo léo trong các lãnh vực nghệ thuật thẩm mỹ [cầm, kỳ, thi, họa]; sau cùng nó mang ý nghĩa là những kiến thức tỗng quát, với đặc tính cao vượt.
Như thế, ban đầu, từ ngữ "sophiste" đồng nghĩa với nhà hiền triết [sage]; tức là những người khôn ngoan. Tên hiệu "Sophistes" được dùng để chỉ những con người xuất chúng trong một nghệ thuật, những nhà thông thái, quán triệt mọi vấn đề, những người phát minh... Sau đó, vào thế kỷ thứ V, "sophistes" là những giáo sư hùng biện, một nghệ thuật đang lên ngôi trong thể chế dân chủ ở Athènes; họ là những nhà bác học, những người thông minh, thâm thúy. Sau cùng, với Aristophane và nhất là Platon, từ ngữ đó mang nghĩa xấu và được hiểu là "những nhà nguỵ biện", tức những người khéo léo biện luận nhưng không nhằm tìm ra chân lý; họ đánh lừa thiên hạ và tự phụ có khả năng thắng được đối phương bằng bất cứ luận đề nào.
2. Lối sống
Hầu hết những nhà ngụy biện không phải là dân Athènes, nhưng đến từ những xứ thuộc địa của Hy Lạp như Léontium, Sicile, Abdère ... Họ sống lang thang trên các đường phố Athènes, sống gắn liền với sinh hoạt hằng ngày của quần chúng, liên hệ với các đảng phái chính trị.
Các nhà ngụy biện kiếm tiền bằng các giảng huấn và đáp ứng những nhu cầu hiểu biết, nhu cầu tranh luận của quần chúng. Họ bàn cãi về mọi vấn đề và "giải đáp" mọi thắc mắc. Trong bầu không khí "mới" và hỗn độn của Athènes, các triết gia ngụy biện tìm thấy khoảng không "tự do" để đả kích lập trướng triết lý của những người đi trước; họ không sợ đụng chạm đến tôn giáo hoặc tư tưởng chinh trị. Những triết gia này bàn đến rất nhiều vấn đề, đặc biệt là những vần đề liên quan đến đời sống đạo đức và chính trị. Những giải đáp của họ cũng hết sức táo bạo. Họ chỉ trích, phá đổ và đưa ra những chuẩn mực mới; họ là những người có thể biện minh cho bất cứ điều gì, chỉ nhằm đạt được hiệu năng mong muốn mà thôi.
Giới thủ cựu ở Athènes rất khó chịu với những loại người nàỵ; trước hết họ cho rằng đó là hạng người đê tiện, vì các triết gia ngụy biện thường đòi tiền thù lao rất mắc. Hơn nữa, trong vấn đề tôn giáo và triết học, các triết gia ngụy biện thường đả phá các triết gia đi trước và gieo mầm tư tưởng hoài nghi.
Những tư tưởng mới lạ của các nhà ngụy biện làm cho lòng dân "điên đảo". Dân chúng cảm thấy giao động, lạc lõng, mất hết lòng tin tưởng ở một chuẩn mực vững bền. Tình trạng đó dẫn đến một thái độ thực tiễn, ưa thích những hào nhoáng, hời hợt, "những lời khéo nói làm cho vui tai", hơn là tin vào một số chân lý căn bản, những giá trị tinh thần truyền thống.
3. Các Nhóm Ngụy Biện
Trào lưu ngụy biện rất thịnh hành ở Athènes từ giữa thế kỷ thứ V đến đầu thế kỷ thứ IV. Họ được gọi chung với danh hiệu "ngụy biện gia", nhưng thật sự không có một mối liên hệ rõ ràng cụ thể. Người ta chỉ có thể tạm sắp xếp họ và những nhóm khác nhau, theo những cách phân chia khác nhau như :
a. Nhóm "già" và nhóm "trẻ"
- Nhóm "già" : là những người bảo thủ; nhóm này còn tương đối còn nghiêm túc, biết kính trọng con người.
- Nhóm "trẻ": là những người cấp tiến; những người này không còn kiêng nể điều gì; họ trâng tráo và vô lương tâm.
b. Nhóm tôn trọng bình đẳng và nhóm chủ trương bất bình đẳng
- Nhóm cho rằng thiên nhiên là tốt, văn minh xã hội là nguổn gốc gây ra mọi sự xấu xa. Trong thiên nhiên, tất cả mọi người đều bình đẳng. Luật lệ xã hội là do kẻ mạnh đặt ra để đàn áp người yếu [5].
- Nhóm đối lập thì cho rằng thiên nhiên vượt ra ngoài phạm vi cái xấu và tốt. Ngay trong thiên nhiên, đã có sự bất bình đẳng rổi; luân lý chẳng qua là phát minh của kẻ yếu để giới hạn sức mạnh của kẻ mạnh. Sức mạnh là nền tảng của đạo đức và là ao ước lớn nhất của con người. Chế độ chính trị cao đẹp nhất, hợp với thiên nhiên nhất, là chế độ quí tộc [6].
c. Nhóm dân chủ và nhóm quí tộc
- Phe gắn liền vời lợi ích của chế độ dân chủ chủ nô.
- Phe gắn liền với lợi ích của tầng lợp chủ nô quý tộc phản động.
4. Đường lối triết học
Học thuyết của phái ngụy biện không thành hệ thống rõ ràng. Tuy nhiên, ta có thể rút ra một số nét chung của các triết gia này
4.1. Thay đỗi nhãn giới triết học
Trong hoàn cảnh dân chủ và trong niềm đam mê chính trị của dân Athènes, những vấn đề tìm hiểu cơ cấu vũ trụ như trước đây, tự chúng, đã không còn là điều quan trọng; thay vào đó, điều làm bận tâm người dân chính là vị thế, thái độ của con người trong xã hội. Do đó, các triết gia ngụy biện đã tích cực chống đối đường lối triết học cổ truyền; họ cho thấy các lập trường về vũ trụ thiên nhiên của các triết gia đầu tiên đã mâu thuẫn nhau; họ loại bỏ các vấn đề vũ trụ học, cả chủ trương "đơn nhất" [monisme] lẫn chủ trương tạp đa [pluralisme], vì cho rằng đó là những môn học vô bổ, không giúp ích gì cho cuộc sống con người.
Như thế, nhãn giới triết học thực sự thay đỗi. Giờ đây, đối tượng của triết học là con người với những vấn đề thiết thực của cuộc sống; triết học chủ yếu bàn về những vấn đề chính trị và đạo đức.
4.2. Đặt lại vấn đề tri thức
Nói chung, các ngụy biện gia cho rằng giác quan không đem lại cho ta một tri giác chính xác về sự vật. Tri thức giác quan của ta không luôn luôn đổng nhất, nó lừa dối và không đưa ta tới nhận thức về nền tảng cuối cùng của vấn đề. Tuy thế, các triết gia ngụy biện cũng chẳng đưa ra được một tri thức lý trí nào vững chắc cả. Thay vào đó, họ chủ trương đề cao chủ thể tính trong vấn đề nhận thức. Con người là chủ thể nhận thức; mỗi người có thể có chân lý riêng; cùng trong một điều kiện thời tiết, người này có thể cho là trời nóng, và người kia lại thấy trời mát.
4.3. Chủ trương tương đối luận
Do đó, các triết gia ngụy biện theo lập trường "tương đối luận". Họ cho rằng mọi chủ trương đều có tính cách tương đối; điều đúng hôm nay lại có thể là sai lạc vào ngày mai. Điều này chẳng những thể hiện trong vấn đề tri thức như đã nói trên, nhưng còn cả trong vần đề đạo đức. Không có tiêu chuẩn khách quan cho điều thiện và điều ác. Trong thực tế, cái gì có lợi thì là điều tốt; và điều có hại có nghĩa là cái ác đối với người ấy. Như thế, tiêu chuẩn để đánh giá các chuẩn mực đạo đức cũng hoàn toàn mang tính chủ quan, dựa theo cảm tính và có tính cách tương đối. Lập trường này đưa đến thái độ hoài nghi.
5. Ảnh hưởng
5.1. Tạo nên một nền giáo dục mới
Nền giáo dục cũ ở Athènes chủ yếu dựa vào truyền thống gia đình, được truyền thụ theo kiểu "chân truyền", nền giáo dục ấy không còn thích hợp trong thời đại mới. Các triết gia ngụy biện đã "nhập cảng" vào Athènes một nền giáo dục mới, một nền giáo dục phong phú vì đề cập đến nhiều vấn đề, một nền giáo dục dựa trên tinh thần phê bình và cạnh tranh tư tưởng, trong đó những gì cũ kỹ và không thích hợp sẽ bị đào thải. Thực sự, nhóm ngụy biện đã góp phần đưa nền giáo dục ở Athènes vượt xa lên nhiều; và, một cách nào đó, các triết gia ngụy biện là những "giáo sư đại học" đầu tiên của thế giới.
5.2. Làm phát triển khoa hùng biện
Chế độ dân chủ cho phép người dân được tham gia vào quyết định chung, có ý kiến trong việc luận tội hoặc tha thứ cho một người nào..., điều đó đã thúc đẩy sự tiến triển rất mau của khoa hùng biện. Khoa hùng biện cung cấp một dụng cụ hết sức hữu hiệu để có thể dành được ưu thế trong bầu không khí dân chủ Athènes. Hùng biện trở thành "bà hoàng của mọi nghệ thuật"; và cũng từ đó, xuất hiện một nghề mới : dạy hùng biện. Isocrate, một nhà hùng biện nổi tiếng của Athènes bấy giờ đã sung sướng thốt lên :
Ngôn từ chẳng những giải thoát chúng ta khỏi cuộc sống động vật, mà còn giúp chúng ta xây dựng những thành phố, thiết định những luật pháp, sáng tạo nên nghệ thuật; mãnh lực của nó được thể hiện ở chỗ : không có nó thì không có cái gì có thể nẩy sinh từ lý tính. Ngôn từ là vị lãnh tụ của mọi việc làm và mọi suy nghĩ. [7]
6. Hậu quả
1. Ngụy biện là những người phá hủy nền tảng của chân lý. Những triết gia ngụy biện có thể dùng những câu che dấu sự thật, chẳng hạn :
- Anh có thôi đánh cha anh không ? [trả lời "có" tức là thú tội đánh cha; trả lời "không" lại có nghĩa là anh đang đánh cha, hay có định đánh cha của mình].
- Bệnh là tốt hay xấu ? [nó có thể xấu cho bệnh nhân nhưng không phải là xấu cho thầy thuốc].
- Chết có lợi hay hại ? [chết là điều bất hạnh cho người không muốn chết; nhưng lại tốt cho người muốn chết, hay cho kẻ thù của người chết, cho người bán quan tài, người lo ma chay thuê...].
Những lối lý luận như thế không phát xuất từ thái độ đi tìm chân lý đích thực, và có thể nó cũng chẳng phải là "triết học" đích thực, xét vì triết học là khoa học "yêu mến sự khôn ngoan". Các triết gia ngụy biện tinh thông về nhiều vấn đề, nhưng kiến thức tinh thông ấy lại không mở đường cho chân lý mà chỉ được ứng dụng vào mục đích bắt bẻ người khác, làm lung lạc kẻ địch. Thái độ ấy làm cho người ta không còn biết tin tưởng vào đâu. Tình trạng ấy không là gì khác hơn một sự băng hoại từ trong nền tảng tinh thần của xã hội. Vào chính thời Socrate, Athènes lại đi vào nhưng ngày tàn tạ.
2. Tuy không còn tin vào điều gì, những các triết gia ngụy biện lại vẫn còn được quyền nói, nói về đủ mọi chuyện và tạo ra cả một nghệ thuật nói. Khi ấy, ngôn ngữ không còn bắt rễ vào cội nguổn của chân lý, và trở thành những chiếc mặt nạ để che dấu và lừa dối nhau. Do đó, nghệ thuật hùng biện nơi các triết gia ngụy biện góp phần phá hủy nền tảng của ngôn ngữ, xét như một dụng cụ để đi vào tương quan.
Mặt khác, nghệ thuật hùng biện, it nhiều, cũng bao hàm một sự "coi thường người đối thoại". Khi quá chú trọng đến khoa hùng biện, người ta sẽ rơi vào thái độ thuyết phục, lôi cuốn hoặc phỉnh dụ người nghe đi đến mục đích của chính mình. Đó là chưa kể tới việc kẻ hùng biện, nhiều khi, là để che dấu cái yếu của mình mà thôi.
KẾT
1. Triết học của phái ngụy biện là nền triết học "giao lưu"; nền triết học đó, trong chừng mực nào đó, có thể là tốt; nhưng đến mức độ nào đó lại có thể là xấu. Làm sao để có thể đón nhận được sự phong phú trong giao lưu nhưng lại không mất đi căn bản tự tại của chính mình và truyền thống của mình ? Bài học của thời đại ngụy biện gia có lẽ thật hữu ích cho thời đại của chúng ta hiện nay.
2. D' Aster nhận xét rằng việc gắn liền hiểu biết với nhân đức không phải chỉ bắt đầu nơi Socrate, nhưng đã có ngay từ khởi đầu của nền triết lý Hy Lạp. Trước Socrate, vấn đề này đã là đề tài nghiên cứu của các nhà ngụy biện.
3. Những nhà ngụy biện đã bị Socrate và Platon nhạo báng như những người khôn ngoan giả [faux sages]; và họ chỉ tạo nên một thứ khôn ngoan giả tạo mà thôi. Công việc đó của Socrate và Platon đã thành công mạnh mẽ đến nỗi truyền thống lịch sử triết học Tây Phương đã không ngừng nói đến phái ngụy biện với sự khinh thị. Trong vở kịch Faust, Goethe đã mặc cho con quỉ cám dỗ tính chất ngụy biện.
Thật ra, sự lên án đó không phải là không bất công. Vào thời đại của họ, các nhà ngụy biện là những bậc thầy của sự khôn ngoan; họ tạo được một ảnh hưởng rộng lớn và góp phần không nhỏ trong sự tiến triển của trào lưu triết học. Tuy phái ngụy biện gây nhiều tác hại cho triết học, như đã nói trên, nhưng các nhà ngụy biện cũng đã thực sự làm giầu cho lãnh vực hiểu biết nhờ những đối tượng nghiên cứu mới; trong đó có nhiều điều còn lợi ích cho tới ngày nay; chẳng hạn, chính các triết gia ngụy biện đã biết phân biệt giữa luật thiết định và luật tự nhiên. Các triết gia ngụy biện cũng đóng góp trong vấn đề luận lý, văn phạm. Họ giúp cho ngôn ngữ Hy Lạp thêm phong phú và nhờ đó nhiều vấn đề siêu hình được đề cập tới một cách khoa học hơn.
4. Đặc biệt, trong thế kỷ XX này, người ta lại ưa thích đặc biệt tinh thần của phái ngụy biện. Tâm thức con người ngày nay thường sợ các chủ thuyết mang tính cách tuyệt đối, khẳng định tuyệt đối và đòi hỏi tuyệt đối. Càng ngày người ta càng cảm nhận rõ rằng con người không thể đạt đến chân lý tuyệt đối mà chỉ hướng về nó, tìm về nó mà thôi. Từ đó, người ta thấy dễ chấp nhận những tư tưởng có tính cách nghi vấn hơn là những tư tưởng có tính cách giáo điều; thích lối tư duy theo kiểu sophistique hơn là platonique [8].
Chú thích
[1] Xc. G. S. Nguyễn Đình Hoan, giáo trình Lịch Sử Triết Học Tây Phương, Tập I, Socrate và các nhà Triết Học Đầu Tiên của Hy Lạp, ronéo, Đại Học Văn Khoa Huế ấn hành, tr. 43-46.
[2] Từ 490-448, quân Ba Tư nhiều lần mang quân đánh phá các thành phố thuộc Hy Lạp. Thành Athènes và thành Sparte liên minh với nhau để chống trả và đã chiến thắng quân Ba Tư của Dartius và Xerses, tại Salamine [480], Platos [479], eurymédon [465]. Năm 449, hai bên ký hòa ước ở Suse; người Ba Tư đồng ý rút quân khỏi Hy lạp. Sau đó, thành Athènes [theo tinh thần dân chủ] trở nên hùng mạnh, còn thành Spartes [theo sự điều khiển của phe quân chủ quí tộc]. thì nghèo khó, nên lại thù nghịch với Athènes. Cuộc chiến giữa Athènes và Sparte kéo dài 27 năm, gọi là cuộc chiến tranh Péloponèse [431-404]. Cuối cùng Sparte hợp lực với Ba Tư để đánh bại Athènes. Socrate sống trong thời đại này.
[3] Périclès [khoảng 500-429], là một nhà lãnh đạo đại tài của Athènes. Dưới sự lãnh đạo của ông, Athènes phát triển về mọi mặt.
[4] Will Durant cho biết, trong 400000 dân Athènes, có 250.000 thuộc giới nô lệ. Trong số 150.000 còn lại, thì chỉ có một số được tham dự vào quốc hội để bàn cãi về những vấn đề của quốc gia. Quốc hội có quyền tối thượng, gổm trên 1.000 thẩm phán [nhằm để làm nản lòng các người hối lộ]; số thẩm phán này được tuyển trạch theo danh sách ABC của toàn dân.
[5] Nhóm này là tiền thân của J.J. Rousseau sau này.
[6] Nhóm này là tiền thân của khuynh hướng Nietzsche sau này.
[7] Isocrate, Panegiricus 114-115; Trích lại trong Thái Ninh, Sđd, trang 92-93.
[8] Xc. Dictionaire de la vie Spirituelle, thème Asolue, pp. 1-2.