Bài 21: Nét chung về Thời hoàng kim - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Người ta gọi Socrate và các đồ đệ của ông là "Les Socratiques". Giai đoạn này đánh dấu cao điểm của triết học Thượng Cổ, kéo dài khoảng một thế kỷ, từ năm 430 tcn, khoảng thời gian Socrate bắt đầu sứ mệnh của mình, cho đến năm 322, năm Aristote qua đời. Thời Hoàng Kim này có mối liên hệ chặt chẽ với thời "trước- socrate" và thời "sau-Socrate".
PHẦN II
THỜI HOÀNG KIM
Chương V
21
Nét Chung về THỜI HOÀNG KIM
I. TRIẾT GIA THEO SOCRATE
Người ta gọi Socrate và các đồ đệ của ông là "Les Socratiques". Giai đoạn này đánh dấu cao điểm của triết học Thượng Cổ, kéo dài khoảng một thế kỷ, từ năm 430 tcn, khoảng thời gian Socrate bắt đầu sứ mệnh của mình, cho đến năm 322, năm Aristote qua đời. Thời Hoàng Kim này có mối liên hệ chặt chẽ với thời "trước- socrate" và thời "sau-Socrate".
Trừ nhóm Ngụy Biện, các triết gia trước-Socrate thường có những suy tư về vũ trụ. Tuy vậy, Anaxagore đã khám phá ra tinh thần, nghĩa là một thực tại làm cho con người trở thành một "nhân vật" đặc biệt trong thiên nhiên. Trong thời kỳ hoàng kim này, chính con người như là hữu thể cao cả đã trở thành đối tượng chính yếu của triết học. Người ta sẽ chú trọng nhiều đến các vấn đề con người như : Đâu là những qui luật hiểu biết riêng của con người [luận lý] ? Đâu là những hành động đặc biệt của con người [luân lý] ? Đâu là bản chất, nguồn gốc, vận mạng con người, xét như là một hữu thể có lý trí [siêu hình] ? Tóm lại, những nhà tư tưởng trong thời hoàng kim này sẽ hướng về một nền triết học có thể gọi được là "triết học về tinh thần" [la Philosophie de l' esprit].
Với thời đại "sau-Socrate", chúng ta thấy thời đại hoàng kim đã ghi dấu một bước ngoặt quyết định cho triết lý Thượng Cổ, định hướng cho thời đại tiếp theo. Tuy nhiên, vẫn có một điểm quan trọng phân biệt thời đại này với thời đại đi sau, đó là: trong khi các triết gia "sau-Socrate" chú trọng đến luân lý; thì trong thời hoàng kim này, chính những ưu tư siêu hình mới là nét chính yếu, ít nhất là với hai môn đệ lớn của Socrate, Platon và Aristote.
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SOCRATE, PLATON VÀ ARISTOTE
1. Đây là giai đoạn quan trọng mang tính quyết định cho cả tương lai của tư tưởng tây phương, giai đoạn mà một nhà tư tưởng tinh tuyền nhất của triết học tây phương, Socrate [469-399 tcn], đứng lên chống lại những nhà ngụy biện, những người đã phá hủy khả năng lý trí trong việc truy tìm đến chân lý. Đây là trường hợp duy nhất trong lịch sử tư tưởng, Socrate đã không viết một tác phẩm nào, nhưng đã trở thành một cột mốc phân ranh của lịch sử triết học.
Socrate, một con người hết lòng yêu quê hương, đã bỏ tất cả, công danh, gia đình và chính mạng sống của mình để tái lập những chuẩn mực xã hội. Socrate đã mở ra một lịch sử mới cho triết học, thời kỳ suy tư triết lý bằng những khái niệm, định nghĩa rõ ràng. Về phương diện này, phải công nhận là Socrate đã thành công quá lòng mong đợi.
Công trình của Socrate được tiếp nối bởi Platon và Aristote; hai triết gia này đã để lại, chẳng những một kho kiến thức hết sức phong phú, nhưng nhất là những hệ thống siêu hình chi phối, hướng dẫn, không chỉ với nền triết học Thượng Cổ, nhưng, có thể nói, với toàn bộ lịch sử triết học Tây Phương.
Theo quan điểm lịch sử thông thường của tây phương, những khuynh hướng triết lý triết lý trước Socrate chỉ được coi là những ý tưởng, những trực giác, những gợi ý, nhưng kiểu nói lướt qua; nhưng chưa một người nào xây dựng được một hệ thông qui củ cho triết học.
Platon là người thứ nhất đã được coi như thành công mỹ mãn trong việc xây dựng hệ thống ấy, một hệ thống siêu hình bao gồm mọi lãnh vực tư tưởng và thực tại. Nhờ vào hệ thống ấy, Platon trở thành nhân vật ảnh hưởng lớn lao nhất trong lịch sử triết học Hy lạp Tây Phương, như Bertrant Roussel đã ca ngợi:
Platon và Aristote đã là những triết gia ảnh hưởng nhất trong số các triết gia thượng cỗ, trung cỗ hay hiện đại; nhưng trong hai người thì Platon đã có tác dụng lớn lao hơn trên những thời đại đi sau. Tôi dám nói thế, vì hai lý do : một là chính Aristote cũng là sản chất của Platon; hai là thần học và triết học Thiên Chúa Giáo, ít là cho tới thế kỷ XIII, vẫn mang bản sắc Platon hơn là bản sắc Aristote [1]
***
Với những điều ấy, thời kỳ này xứng đáng được coi là thời hoàng kim của lịch sử triết học Thượng Cổ.
Chú thích
[1] W. Phi. p. 125; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương II; thời Thượng Cỗ và Trung Cỗ, Trung Tâm Sản Xuất Học Liệu Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, 1975, trang 4.