Bài 22: Socrate (P2) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Để thực hiện sứ mạng của mình, Socrate đã tạo nên một phương pháp khá độc đáo, phương pháp Maieutique ["sản ý" hay "đỡ đẻ tinh thần"]. Phương pháp này được gợi hứng từ nghề bà đỡ của mẹ ông.

2. Triết học của Socrate

2.1 Phương pháp Sản Ý [Maieutique]

Để thực hiện sứ mạng của mình, Socrate đã tạo nên một phương pháp khá độc đáo, phương pháp Maieutique ["sản ý" hay "đỡ đẻ tinh thần"]. Phương pháp này được gợi hứng từ nghề bà đỡ của mẹ ông.

Socrate không hề muốn sử dụng thuật hùng biện để thuyết phục người nghe; ông chỉ đặt những câu hỏi giúp người đối ông tự mình tìm lấy chân lý. Có lẽ Socrate là mẫu người lý luận, ông được gợi hứng về phương pháp sản ý khi nhận thấy trong lối nói hùng biện của những người ngụy biện có nhiều điều không được hợp "luận lý". Chúng ta cũng biết rằng, trước Socrate những khái niệm chung chưa được rõ ràng; và trong lối trình bầy của những người ngụy biện, có những kiểu "đánh luận con đen" bằng cách hoán chuyển nội dung của khái niệm. Hoặc cũng có thể Socrate hiểu được rằng trong bầu không khí hỗn loạn ngôn từ, cách tốt nhất là không nên hòa mình trong những cái hỗn độn ấy. Dù sao, phương cách của Socrate quả thực là hết sức khôn ngoan và hết sức thích hợp để chống lại những nhà ngụy biện.

Đây là một phương pháp đối thoại, trong đó, người ta có thể phân tích ra thành nhiều yếu tố như : tra vấn [interrogation]; mỉa mai [ironique]; đỡ đẻ [Maieutique]; qui nạp [induction] định nghĩa [définition].

Chúng ta có thể nói chung về phương pháp này bằng hai yếu tố chính :

- Tiêu cực : Socrate bắt đầu cuộc tranh luận bằng cách hỏi những nhà ngụy biện như thể muốn tìm biết những bài học của họ. Tuy nhiên, lối hỏi của Socrate luôn có vẻ chế nhạo, châm chọc, mỉa mai. Cách thức tra vấn như thế, được thực hiện một cách khôn ngoan, dần dần dẫn người đối thoại đến chỗ tự mình nói ngược với mình; và cuối cùng họ phải tự thú nhận về sự ngu dốt của mình.

- Tích cực : trong khi phá đổ sự ngu dốt của những người không biết mình dốt; lối tra vấn liên tiếp của Socrate cũng đồng thời dẫn người đối thoại đến chỗ khám phá ra chân lý "đỡ đẻ tinh thần"; những chân lý mà họ đã biết nhưng chưa ý thức một cách sách tỏ. Đồng thời phương cách này cũng giúp người đối thoại xác định được những tính chất chung, căn bản, tìm thấy những định nghĩa chính xác về một khái niệm; đó cũng là một phương pháp được gọi là qui nạp pháp của Socrate [l' induction socratique].

Platon cho thấy Socrate đã áp dụng phương pháp này một cách tài tình, hứng thú; và hấp dẫn nhiều người, đặc biệt là thanh niên.

2.2 Hình thành nền tảng mới cho triết học

2.2.1 Những khái niệm và định nghĩa

Phương pháp "sản ý" của Socrate giúp loại bỏ được những tính chất phụ thuộc, nhưng tính chất mâu thuẫn nhau trong một vấn đề; điều đó cũng dẫn tới việc xác định những khái niệm căn bản của cuộc sống.

Ta biết rằng chủ trương của các nhà ngụy biện là một thứ duy nghiệm hay duy cảm; chủ trương đó đưa đến chủ trương tương đối, hoặc hoài nghi chủ nghĩa và cuối cùng là hư vô chủ nghĩa. Chống lại triết học của các ngụy biện gian, Socrate cố gắng tìm ra những ý tưởng tổng quát [idées générales] hay một khái niệm, có khả năng bao hàm nhiều sự vật khác nhau, và cũng bao hàm được các nhận thức khác biệt qua giác quan.

Như thế, về phương diện triết học, học thuyết của Socrate đưa đến kết quả là xác định tri thức bằng những định nghĩa hay bằng những khái niệm; nhất là các khái niệm căn bản về đời sống con người. Chính nhờ khía cạnh này mà triết học của Socrate thực sự tạo nên một nền tảng mới cho triết học tây phương, một nền triết học hoàn toàn dựa trên suy tư hợp lý của lý trí.

2.2.2 Quan niệm về Triết lý

Khi "tấn công" những người thực sự không hiểu biết mà cứ tưởng như mình đã hiểu biết, Socrate, hơn ai hết, đã làm sáng tỏ ý niệm "Philo-sophia" mà Pythagore đã sử dụng. Biết bao người đã tưởng mình là người hiểu biết [sophos]; giờ đây, họ phải thú nhận mình chưa đạt tới tình trạng ấy, và cần phải yêu mến sự khôn ngoan [philosophos], cần lên đường đi tìm sự khôn ngoan.

Chính Socrate đã giúp con người biết đề phòng với sự khôn ngoan giả của chính mình; và từ đây, triết lý mang ý nghĩa thiết yếu là sưu tầm, tra vấn, băn khoăn..., và không bao giờ được thỏa mãn với hiểu biết đã có của mình.

< Xem lại phần 1

Xem tiếp phần 3 >