Bài 22: Socrate (P4) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Ảnh hưởng của cá nhân Socrate đã chi phối lịch sử triết học tây phương. Hơn nữa, chúng ta còn có thể nói tới "món quà" của ông tặng cho nhân loại : người học trò Platon. Cái chết anh hùng của ông đã để lại nơi người học trò Platon một ấn tượng sâu sắc, để ông này dành cả cuộc cuộc đời lo việc truyền bá một thứ triết học đích thực.
4. Ảnh Hưởng của Socrate
Ảnh hưởng của cá nhân Socrate đã chi phối lịch sử triết học tây phương. Hơn nữa, chúng ta còn có thể nói tới "món quà" của ông tặng cho nhân loại : người học trò Platon. Cái chết anh hùng của ông đã để lại nơi người học trò Platon một ấn tượng sâu sắc, để ông này dành cả cuộc cuộc đời lo việc truyền bá một thứ triết học đích thực.
4.1 Một truyền thống triết lý duy lý
Lập trường tìm hạnh phúc và sống nhân đức của Socrate có lẽ không có gì đặt biệt lắm, nó chỉ có thấy một nhân cách đáng kính phục của một hiền triết. Tuy nhiên, trong bình diện triết học và trong dòng lịch sử triết học tây phương, chính phương pháp [sản ý] và nhất là phương tiện đạt đến hạnh phúc [con đường của lý trí] của Socrate đã trở thành những vấn đề trọng tâm gây ra nhiều hệ lụy. Điều đó đã xẩy ra trong một hoàn cảnh riêng biệt của Athènes vào thế kỷ thứ V. Vì khi chống lại các ngụy luận gia, những người đã gây băng hoại cho đời sống luân lý ở Athènes bằng cách hủy diệt mọi tiêu chuẩn chân lý khách quan, thì Socrate lại xây dựng đời sống đạo đức gắn liền với nền tảng lý trí, nhằm khôi phục lại chân lý khách quan.
Một lập trường như thế chẳng khác nào tháp cho tinh thần duy lý một đôi cánh đạo đức, chuyên chở "đầu đạn lý trí" trên cỗ xe "bọc thép" của luân thường, của đạo lý, của lương tâm. Hậu quả là chủ trương đạo đức của Socrate đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời điểm riêng biệt của nó, nhưng lý thuyết duy lý của ông lại trở thành nền tảng cho tất cả khuynh hướng duy lý của triết học tây phương về sau; nhờ một người học trò vừa hết sức đạo đức, đồng thời mang dấu ấn cái chết vì đạo đức của Thầy, vừa hết sức thông thái. Tính duy lý của Socrate trở nên nền tảng cho học thuyết lý tưởng của Platon.
4.2 Theo Kierkegaard [20]
Kierkegaard viết luận án tiến sĩ của mình với đề tài "Khái niệm hài hước luôn qui chiếu vào Socrate" [Concept d' ironie constamment rapporté à Socrate] [21]. Trong đó Kierkegaard mô tả Socrate là người cảm nhận được tính cách hài hước.
Trước hết, Kierkegaad sẽ cho thấy sự châm biếm của Socrate là một thái độ thành thực tìm kiếm chân lý, chứ không phải giả bộ. Socrate không luôn có sẵn những câu trả lời; ông cùng lần mò, tìm tòi để thấy rõ hơn. Có lần chính Socrate cũng bí lối. Trong cuộc đối thoại với Ménon, một người nô lệ, Socrate đã làm cho anh ta nhiều lần bị dồn vào chân tường. Anh ta thú nhận :
"Đã nhiều lần tôi được nghe rằng : tất cả chiến thuật của ngài là đẩy người ta tới chỗ nhận thấy những gì xem ra hiểu nhiên lại rơi vào ngõ bí, để người ta bị lạc lõng trong đó...
Thì ra bây giờ tôi mới cảm thấy bị ngài mê hoặc và khích lệ, đến nỗi tôi phải hoàn toàn hàng phục sức mạnh của ngài; không biết phải xoay sở như thế nào nữa... không khác gì ngài là thứ cá kình [torpille] có sức mạnh làm tê liệt tất cả những gì tiến gần nó hay đụng nó... Nếu ngài thi hành chiến thuật ấy ở một đô thị ngoại bang, tôi dám chắc ngài sẽ bị người ta tống giam ngài về tội phù thủy ấy".
Socrate nói : "Phải, nếu so sánh ta với con cá kình và hiểu rằng : trong khi làm tê liệt người khác, chính nó cũng bị tê liệt thì điều ấy đúng. Ngược lại là không đúng ! Vì khi gây thắc mắc cho người khác thì chính ta, ta cũng bối rối" [22].
Ban đầu Kierkegaard đã đồng ý với Hégel khi nhận định về chính con người Socrate cũng như phương cách châm biếm của ông chỉ là một thứ tiêu cực tính, một thứ phản đề; và nó cần phải bị vượt qua trong quá trình biện chứng để đi đến hợp đề. Nhưng rồi Kierkagaard lại coi tiêu cữc tính trong châm biếm của Socrate có nét độc đáo; đến nỗi sự xuất hiện của Socrate là một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử. Từ đó Socrate cũng khám phá ra ý niệm cá tính và đi đến khẳng định chỉ có cá tính là đơn vị duy nhất đáng kể đối với tư tưởng con người.
Trở lợi trường hợp socrate, Kierkegaard cho rằng "tất cả cuộc đời Socrate đã là một phản kháng đối với những gì đã lập sẵn, đối với đời sống có tính cách bản thẻ giữa lòng của Nhà Nước". Như thế, ngay cuộc sống của Socrate đã là "một cách thức sống trong lịch sử không thể đo lường một cách xác thực và đứng đắn bằng quan niệm lý luận được".
Tóm lại, Kierkegaard muốn đem "hài hước" ra đối lập với "hệ thống". Ta có thể hiểu được điều đó nhờ một nhận xét của Jankélévitch :
"Ở cuối thế kỷ thứ V, sự xuất hiện của Socrate có thể được coi như hình thức hài hước đầu tiên của trưởng thành đến thay chỗ cho những sợ hãi và những phấn khởi của lúc thiếu thời. Hài hước của Socrate là một hài hước nghi vấn liên miên; bằng những nghi vấn ấy, ông đã làm nổ tung những vũ trụ luận luận nặng nề của các trường phái Ioniens và cả nhất nguyên nghẹt thở của Parménide. Nhưng trước tiên phải thấy rằng : Socrate cũng là một ngụy luận gia như Prométhée là một khổng lồ, nhưng là một ngụy luận gia "đã trở cờ", một ngụy luận gia đã vượt ra ngoài vòng ngụy luận và khoa học vũ trụ [...]. Nên đối với ngụy luận lưu manh, ông còn lưu manh gấp đôi : Socrate làm lộ tẩy mưu đồ phi lý của lối tranh luận ngụy biện và thái độ ngỗ nghịch của nhóm "hãnh tiến" kia. Bằng những nghi vấn, Socrate sàng sẩy dần những kẻ buôn văn bán chữ, và ưu thích chọc thủng những bình da chứa hùng biện của họ, hay làm xì hơi những bong bóng đầy sình kiến thức vô ích của họ" [23].
Điều Kierkegaard khai mào đã được tiếp nối trong một loạt những nhà tư tưởng hiện sinh, ta có thể kể ra một số trường hợp:
* Chống lại thái độ nghiêm nghị
Kierkegaard cho thấy tinh thần hài hước là thái độ chống lại sự "nghiêm nghị", sự nghiêm nghị của những người quá bám vào hệ thống, hệ thống đạo đức hay hệ thống lý thuyết.
Đối với những người sống "nghiêm nghị" trong một hệ thống đạo đức, họ luôn cần tới một sức mạnh ngoại tại để củng cố lập trường của mình. Khi xuất hiện trước công chúng, họ thường tỏ ra đoan trang, long trọng "như những kẻ bởi trời sa xuống"; họ chú trọng tới y phục, nghi lễ, bộ điệu và không thể thoát ra được lớp vỏ ấy.
Khi La Rochefoucauld nói : "đó là một xảo thuật của thể xác đã được sáng nghĩ ra để che đậy những khuyết điểm trong tâm hồn"; thì sự ông đã đưa ra được một "định nghĩa" tuyệt vời cho thài độ nghiêm nghị.
Nietzsche gọi những nghười nghiêm nghị là : "những chàng hề trang trọng" [les bouffons solennels] hay "những con ruồi bay vi vu ngoài công trường" [des mouches qui bourdonnent dans les places].
* Chống lại thái độ khắc khổ
Jankélévitch cho rằng những người "nghiêm nghị" như thế đã đồng hóa đạo đức với khắc khổ, họ chống lại sự dễ dãi, phóng túng, tự do hay sự ngọt ngào của cuộc đời.
Nietzsche cho rằng [24] thứ khắc khổ của triết gia là một hình thức kỷ luật cần thiết để phát triển tinh thần, nó làm cho tâm hồn thanh bình và không bao giờ là kỷ luật để đầu độc suối nguồn sự sống. Ngược lại, thái độ khắc khổ của tư tế xuất phát "từ bản năng chủ trương phòng ngừa cho một sức sống đang xuống dốc". Thái độ khắc khổ như thế chỉ biểu hiện một sức sống bạc nhược.
* Chống lại thái độ giáo điều
Nietzsche còn cho thấy thái độ nghiêm nghị nơi lập trường của Kant, khi Kant, trong quyển Phê Bình Lý Trí Thực Hành, chủ trương lý trí tự do là lý trí tự lấy mình làm luật lệ cho mình; Nietzsche cho rằng Kant đã đặt lý tính "vừa là tòa án vừa là bị cáo, vừa là quan tòa vừa là bên nguyên bên bị". Thái độ đó thật ra chỉ biểu hiện lý tưởng đạo đức của phái Thanh Giáo [puritanisme] do từ người mẹ đạo đức của Kant mà thôi.
Nietzsche đã phê phán : "Mọi tuyệt đối đều phát sinh từ một bệnh lý, chỉ có thái độ nghi vấn, ngang tàng, khinh bỉ đùa cợtm, hài hước mới là những triệu chứng cho một sức khỏe lành mạnh" [25].
Thái độ nghiêm nghị còn ghê gớm hơn khi biến thành những hệ thống lý thuyết tuyệt đối, biểu hiện trong hầu hết các học phái của triết học tây phương, trong nền thần học Kitô giáo [26]; rồi cả trong những tổ chức của xã hội nữa.
* Chống lại thái độ độc tài
Simone de Beauvois, trong bài "Để đi tới một nền luân lý có tính cách đa diện" đã viết : "Thoạt khi người ta phủ nhận tự do nhân danh những chuẩn đích được tự hào là tuyệt đối thì lúc ấy đã có nghiêm nghị rồi"; rồi bà viết : "Một con người nghiêm nghị như thế rất nguy hiểm vì tự nhiên họ trở thành độc tài".
4.3 Theo Nietzsche
Ngược lại, trong tác phẩm "Sự khai sinh của bi kịch" [La Naissance de la tragédie"], Nietzsche coi Socrate là một người đã phá hủy mất tinh thần Hy Lạp nguyên thủy. Nietzsche chê bai Socrate chẳng những có một bộ dạng xấu xa, hay nóng giận, một kẻ phàm nhân vô học và là một kẻ "tự học về đạo đức"; nhưng Socrate còn là đối thủ của "tinh thần Dionysos" một tinh thần hùng mạnh và đầy sức sống của Hy Lạp.
Trước Socrate, thiên nhiên vẫn còn đồng trinh, chưa bị "xâm phạm tiết hạnh" do thái độ tri thức; khi ấy, người ta sống trọn vẹn với đam mê, khoái lạc hay đau đớn cùng cực, và biết để mình hòa đồng trong vạn vật, mất hút đi trong thực thể uyên nguyên. Đó là sức sống cuồng say của tinh thần Dionysos.
Socrate là "tiêu biểu của loài người không có thần bí"; "Socrate là tiêu biểu cho một thái độ lý thuyết lạc quan, vì trong khi tin tưởng rằng mình có thể biết tận căn để mọi sự, nó gán cho kiến thức và tri thức một sức mạnh như thuốc vạn ứng và quan niệm sai lầm là một sự ác tự nội". Socrate, cùng với nhà soạn kịch mới là Euripide, đã loại bỉ tinh thần Dionysos để sử dụng những phương thức dựa vào sự hợp lý, rõ ràng, "những phương thức xúc cảm ấy chỉ là những tư tưởng lạnh ngắt, mâu thuẫn" . Tóm lại, "Socrate là tiêu biểu cho sự sa đọa" [28].
4.4 Ông tổ của triết học hiện sinh
Châm ngôn "hãy biết mình" của Socrate là một lời hiệu triệu đối với triết lý; triết lý phải quay về với con người thay vì mải mê trong những vấn đề siêu hình của vũ trụ. Bước ngoặt của lịch sử triết học Thượng Cổ để quay về với một nền triết học nhân sinh như thế giống hệt với bước khởi đầu của triết học hiện sinh sau này.
Mặt khác, con đường suy tư triết lý khởi từ việc nhận biết chính mình cho thấy "cá nhân" có một chỗ đứng hết sức quan trọng. Kierkegaard đã nhận xét chí lý rằng : "Theo quan điểm của Socrate, mỗi người là trung tâm điểm cho mình".
Hơn nữa, cách thức tìm tòi chân lý của Socrate lại cho thấy ông không có một giải pháp "tiền chế" nào cho vấn đề nhân sinh.
Tất cả những điều ấy làm say mê những nhà tư tưởng muốn phá đổ hệ thống. Socrate được coi là một trong những người tiên phong của trào lưu hiện sinh, điều ấy cũng không phải là quá đáng.
KẾT
1. Trước hết, chúng ta không thể nào không thán phục một con người không chỉ là con người đem suy tư của mình để bảo vệ chân lý, mà còn hiến thân cho chân lý. Nếu được phép suy diễn thêm, ta có thể nói : với Socrate, chân lý không còn là cái gì trừu tượng của suy luận nữa, nhưng là cái gì khiến ông say mê, sẵn sàng chịu chết cho chân lý; rồi Socrate lại coi chân lý là chính thần thánh, thì quả thật tấm gương của Socrate là một tấm gương "tử đạo" vì thần thánh và là một tấm gương mang tính "làm chứng" [martyr] đối với thời đại, hoặc ít nhất là với Platon.
2. Lê Tôn Nghiêm cũng nhận định rằng :cho dù hai lối nhìn của Kierkegaard và Nietzsche khác nhau, nhưng "điều của ông [Nietzsche] tuyên dương như tiêu biểu lý tưởng nhất cho "bi kịch Hy Lạp" là "thần Dionysos", lại hoàn toàn phù hợp với tinh thần của một Socrate hài hước như Kierkegaard phác họa" [29].
Tuy nhiên, mặc dù rất thán phục những suy tư của Nietzsche, ta cũng có thể thấy rằng, tinh thần duy lý của Socrate, chẳng qua là con đẻ của tinh thần truyền thống trong thế giới Hy Lạp mà thôi. Socrate không ở trên trời rớt xuống trên mảnh đất Athènes, mà chính là thành quả nhào nặn của một lịch sử suy tư lý trí từ rất sớm. Nếu chính Socrate đã cầm gươm giết chết Dionysos, thì đằng sau socrate, còn có cả một "đạo quân" của các triết gia duy lý tại chính Hy Lạp.
Chú thích
[20] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 44-93.
[21] Jacques Montoy, cho rằng ý nghĩa hiện nay của từ "ironie" phát xuất từ lối tra vấn của Socrate luôn có tính chế nhạo [interrogation plus ou moins moqueuseÙ; Xc. Précis d' Histoire de la Philosophie, Les Éditons de L' École, Paris 1953, trang 18.
[22] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Socrate, Ca Dao, in lần thứ hai, 1975, trang 46.
[23] Trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd, trang 84-85.
[24] Trong phần III quyển "Căn Nguyên Đạo Đức" [Généalogie de la MoraleÙ.
[25] "Par-delà le bien et le mal, p. 154; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, sđd, trang 63.
[26] Nếu Kitô giáo không triển khai được tính cứu độ của Kitô giáo; không khám phá ra Đức Kitô là con người tự do và giúp cho ai tin Ngài được tự do, thì quả thực Kitô giáo cũng "xứng đáng" với lời phê bình ấy.
[27] Cũng nên ghi nhận rằng Socrate không bao giờ đến kịch trường để thưởng ngoạn bi kịch, ông chỉ tham gia diễn xuất những bản kịch của Euripide.
[28] Xin coi thêm điều này trong phần giáo trình Triết Học Hiện Đại, trình bầy quan điểm của Nietzsche.
[29] Sđd, tr. 9.