Bài 22: Socrate (P5) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Trích văn
1. ANH HÃY BIẾT ANH
Socrate [S] - Bấy giờ, nghệ thuật nào giúp chúng ta săn sóc chúng ta?
Alcibiade [A] - Điều đó tôi không biết.
S. - Dầu sao, chúng ta đồng ý ở một điểm; không phải vấn đề nghệ thuật giúp chúng ta cải thiện sự gì thuộc về chúng ta, nhưng là vấn đề nghệ thuật giúp chúng ta cải thiện mình.
A. - Ông nói đúng.
S. - Đàng khác chúng ta có thể nào nhận biết nghệ thuật đóng giày cho tốt, nếu chúng ta chưa biết giày là gì?
A. - Không thể được.
S. - Vậy nghệ thuật làm sao cho mình hoàn thiện hơn, chúng ta có thể biết được không? nếu chúng ta chưa biết chúng ta là gì?
A. - Không, điều đó không thể được.
S. - Nhưng, biết chính mình có phải là điều dễ dàng không ? và người ta truyền khắc giáo điều nầy trên ngưỡng cửa đền Delphes có phải là người tầm thường chăng ? Hay là đó là một công việc khó khăn, không thể bất cứ ai cũng làm được?
A. - Theo tôi, thưa Socrate, nhiều lần tôi đã nghĩ là ai cũng có làm được, nhưng đôi khi tôi cũng cho đó là việc rất khó.
S. - Dầu việc đó khó hay không, Alcibiade, chúng ta luôn luôn đứng trước sự kiện nầy: khi chúng ta biết mình, chúng ta mới có thể biết cách săn sóc chúng ta, nếu không, chúng ta không thể làm được.
A. - Điều đó rất đúng.
(Platon Alcibiade 128 d.l. 129)
***
- Nầy, Euthydème, anh có khi nào đến thành Delphes chưa ?
- Trời, hai lần rồi !
- Vậy anh thấy dòng chữ khắc trên đền thờ: "anh hãy biết anh" chớ ?
- Dĩ nhiên.
- Anh không nghĩ gì về dòng chữ hay anh đã lưu ý và đã tìm xét anh là thế nào rồi chớ ?
- Trời ! Không ! Vì tôi đã tưởng mình biết điều đó lắm, khó mà học hỏi điều gì, nếu tôi không biết tôi.
- Vậy anh tưởng rằng, cho được biết mình thế nào, chỉ cần biết tên mình, hay như những anh lái ngựa, không cho mình biết thú, trước khi thử xem nó có ngoan hay lì, mạnh hay yếu, mau hay chậm, tắt một lời, tất cả những tính tốt hay xấu của con lừa; chỉ có ai đã dò xét mình thế nào để tận dụng khả năng mình, mới biết rõ giá trị mình?
- Như thế, tôi nghĩ rằng ai không biết giá trị của mình, là không biết mình.
- Đối với con người ở đời, sự biết chính mình là nguồn phát xuất vô số điều thiện, còn sai lầm về chính mình gây trăm ngàn tai hại, đó không phải là một chân lý hiển nhiên sao ? Bởi ai biết mình, thì biết điều gì lợi ích cho mình, họ phân biệt việc gì có thể làm được với việc gì không thực hiện được. Như thế, khi làm điều gì họ có thể làm được, họ cung cấp cho mình những sự cần thiết và sống hạnh phúc; còn khi tránh việc vượt qua những khả năng mình, họ không sai lỗi và tránh được những kết quả tai hại; sau hết, vì có đủ khả năng phê phán người khác hơn, nên họ nhờ tài khai thác đem lại cho mình nhiều lợi ích quan trọng và tránh được những tai họa. Trái lại, ai không biết mình và giá trị của mình, họ cũng không biết tha nhân và nhân sự: họ không biết điều họ phải làm, điều họ đang làm, cũng không biết họ đang xử dụng ai, nhưng chán mọi sự, họ mất dịp thu thập lợi ích và sa vào tình trạng khốn khổ.
(Xénophon, Mémorable IV, 11/26)
2. VỀ CÔNG BÌNH
(Dikaión và Adikaión, bất công)
- Anh muốn chúng ta viết ở đây một chữ A (delta), ở đó một chữ D ? Điều gì chúng ta coi là việc công bình, chúng ta sẽ đặt chữ D; chúng ta đặt dưới chữ A điều gì chúng ta coi là việc bất công.
- Ông cứ làm theo điều ông đoán là cần thiết.
- Socrate viết hai chữ như ông nói trên.
- "Người ta không gặp nơi con người điều gian dối sao ?" ông tiếp.
- Phải.
- Vậy ta đặt nó ở đâu ?
- Rõ ràng là dưới chữ bất công.
- Người ta không lường gạt sao ?
- Chắc chắn .
- Ta sẽ đặt sự lường gạt ở đâu ?
- Cũng bên phía bất công.
- Còn hành vi làm hại người khác.
- Cũng chỗ đó.
- Việc bán người tự do như người nô lệ ?
- Cũng đặt chỗ đó luôn.
- Như thế, cho tất cả điều đó, không có gì bên phía công bình ?
- Cái đó lạ kỳ.
- Nhưng tại sao vậy ? Ta thử xem một đại tướng chinh phục một quốc gia bất công và thù địch: Ta cho đại tướng làm điều bất công ?
- Thực sự, không.
- Vậy ta kể điều ông làm là hành vi công bình ?
- Chắc chắn.
- Còn nếu ông đánh lừa địch ?
- Cũng là công bình.
- Nhưng nếu ông cướp bóc và tịch thu tài sản của họ.
- Ông chỉ làm điều công bình. Tôi nghĩ rằng những câu hỏi trên chỉ nhắm bạn hữu chúng ta mà thôi.
- Như thế điều gì chúng ta đã gán cho người gian ác, bấy giờ phải gán cho công bình ?
- Tôi nghĩ như vậy.
- Anh muốn khi đặt hành động nầy vào chỗ anh chỉ định, chúng ta chủ trương nguyên tắc nầy: các hành động đó trở nên công bình đối với thù địch, nhưng bất công đối với bạn hữu, và người ta phải đối đãi hết sức thành thật đối với bạn mình ?
- Chúng ta đồng ý. Và nếu một quan tướng, Socrate nói tiếp, thấy binh sĩ mình chán nản, nếu quan loan tin sẽ có quân tiếp viện và như thế nói dối để củng cố những tâm hồn khiếp sợ, thì chúng ta phải đặt sự lừa dối đó dưới chỗ nào.
- Dưới chữ công bình, tôi nghĩ.
- Một đứa bé cần một liều thuốc, nhưng nó không chịu uống, cha nó trộn thuốc với đồ ăn, và nhờ mưu kế đó, đứa con mạnh lại. Chúng ta đặt sự lừa bịp đó ở đâu ?
- Cũng ở một chỗ trước.
- Người bạn tôi thất vọng. Tôi sợ chàng quyên sinh. Tôi lén lấy lưỡi gươm của chàng, lấy tất cả khí giới của chàng. Chúng ta nghĩ sao về sự đánh cắp nầy ?
- Đó là việc công bình.
- Vậy anh đoán quyết rằng, dầu đối với bạn hữu, người ta cũng không bắt buộc phải hết sức thành thật ?
- Thực sự không. - Tôi phủ nhận, nếu được, điều tôi vừa nói.
- Như thế tốt hơn là cố chấp trong sự sai lầm.
3. LỜI SAU CÙNG
Hỡi các quan tòa, các ông cũng phải mang nhiều hy vọng trước cái chết và phải đinh ninh rằng có một điều chắc chắn là không thể có điều gì tai hại cho người lương thiện dầu đang buổi sinh thời hay sau khi qua đời, và các vị thần không điềm nhiên trước số phận của người lương thiện. Số phận của tôi không phải là một sự ngẫu nhiên, và tôi thấy rõ rằng: tốt hơn hết là tôi chết bây giờ và được thoát khỏi mọi đau khổ. Vì đó mà điềm hiệu không lúc nào bộc lộ cho tôi và tôi không quá oán giận những người lên án tôi và những cáo nhân của tôi. Thực ra khi lên án và tố cáo tôi, họ không có ý nghĩ như tôi, họ tưởng làm hại tôi và như thế họ đáng khiển trách.
Nhưng tôi xin họ một điều. Khi các con tôi khôn lớn, hỡi đồng bào Aten, hãy trừng trị chúng bằng cách dày vò chúng như tôi đã dày vò quý ông, nếu quý ông thấy chúng bỏ con đường đạo đức chạy theo tiền của hay điều gì khác, và nếu chúng tưởng mình là chi, dầu chúng không là gì, hãy làm cho chúng xấu hổ, như tôi đã làm cho quý ông, vì chúng xao lãng bổn phận và tưởng mình là chi, khi chúng không có công đức gì. Nếu quý ông thực hiện điều đó, quý ông cư xử với chúng tôi, tôi và các con tôi, một cách công bình.
Thôi đã điểm giờ chúng ta chia tay, tôi, đi vào cõi chết, còn quý ông tiếp tục sống. Ai trong chúng ta lãnh phần cao quý hơn, không ai biết, trừ Thượng Đế.
****
4. CÁI CHẾT CỦA SOCRATE
(Theo The History of philosophy,
trích lại trong Cửa sổ nhìn ra thế giới, số 2/92:
Socrate bị Anytus, thủ lĩnh thành Athens bức tử, phải uống thuốc độc. Đám môn đệ tìm cách cứu ông lần chót: họ đã thương lượng và bọn cai ngục đã đồng ý nhận tiền rồi làm ngơ cho Socrate trốn đi. Nhưng Socrate từ chối. Ông đã bẩy mươi tuổi, có lẽ ông nghĩ rằng có chết cũng không phải ân hận.
Khi các môn đệ đến ngục thất đưa tiễn thầy mình về cõi chết, Socrate nói: "Hãy vui lên, các con chỉ phải chôn cái thể xác của thầy". Nói đoạn, ông đứng dậy và đi vào buồng tắm với Criton. Chúng tôi ngồi đợi ở ngoài, lòng buồn vô hạn. Ông cũng như cha, giờ đây cha chết, chúng tôi là những kẻ mồ côi. Hoàng hôn sắp xuống. Khi ông trở lại, ông lại ngồi với chúng tôi, nhưng trò chuyện rất ít. Được một lát, người cai ngục đi đến gần ông và nói : - Ông là một hiền nhân............... )
Mặt trời gần lặn, vì Socrate nán lại rất lâu tại chỗ đó tắm rửa xong, ngài an tọa và từ lúc nầy, cuộc chuyện vãn rất ngắn. Lúc đó đầy tớ của 11 quan tòa đến đứng trước ngài mà nói: "Thưa Socrate, cậu nói, tôi sẽ không khiển trách điều mà tôi đã khiển trách những người khác. Họ nổi giận tôi và nguyền rủa tôi, khi tôi mời họ uống thuốc độc, bởi vì đó là mệnh lệnh của các quan. Còn ông, trong nhiều trường hợp khác, tôi đã có đủ thời giờ hiểu ông là người quảng đại nhất, hiền hậu và tốt nhất, sánh với những người đã đặt chân đến đây, và đặc biệt hôm nay, tôi biết chắn ông không giận tôi, nhưng giận những người ông biết, những người hữu quyền, xin từ biệt ông! Xin ông cố chịu đựng một cách mạnh bạo, điều không thể tránh được". Cùng lúc đó, cậu khóc lên và quay mặt lui ra. Socrate ngước mắt nhìn cậu: "Thôi cũng từ biệt con!, Ngài nói, Phần ta, ta sẽ làm theo lời con dặn". Đoạn ngài day qua phía chúng tôi: "Cậu dễ thương quá, ngài nói. Suốt thời gian ở đây, cậu thường đến gặp tôi, đôi khi chuyện vãn, tắt một lời, đó là một người rất tốt. Và hôm nay, tất cả tâm hồn quảng đại được biểu lộ qua cách cậu khóc thương tôi! Vậy ta hãy vâng lời cậu nghe Criton và xin đem thuốc độc tới nếu đã tán xong, nếu chưa, ai có phận sự hãy lo làm.
Lúc đó Criton nói: "Nhưng, thưa Socrate, nếu tôi không lầm thì mặt trời còn cao trên dãy núi chưa lặn xong. Tôi cũng nghe nói những người khác được mời năm hồi mười hiệp mới chịu uống chén thuốc độc, sau khi đã uống xong, một vài người lại còn trò chuyện với ai tùy thích nữa. Thôi, đừng vội, còn thì giờ!". Socrate đáp: "Criton, dĩ nhiên các người con nói đó làm những người như con nói, vì họ nghĩ rằng làm như thế sẽ được một lợi ích gì. Còn tôi, cũng dĩ nhiên là tôi không làm gì, vì tôi nghĩ không lợi gì mà hoãn việc uống thuốc độc cho thiên hạ chê cười tôi còn bám vào sự sống và tiết kiệm khi nó đã chấm dứt. Thôi đừng nói nữa, đi đi! và vâng lời tôi, đừng làm phiền tôi.
Criton lãnh lệnh liền làm dấu gọi một tên đầy tớ đứng gần đó. Tên nầy đi và sau một lúc trở lại dẫn người lo dọn thuốc độc. Người nầy cầm chén thuốc độc tán sẵn. Vừa thấy hắn: "Ê chú, Socrate hỏi, chú quen công việc, vậy tôi phải làm gì bây giờ ?" - Không gì hơn, người ấy đáp, là uống chén nầy rồi đi bách bộ một vòng cho tới khi ông cảm thấy nặng chân thì nằm xuống, như vậy thuốc sẽ thấm. Nói xong, hắn trao chén thuốc cho Socrate, - Ngài liền cầm lấy và Echécrate ơi, ngài vẫn giữ bình tĩnh và không chút run sợ, không thay đổi sắc mặt hay nét mặt. Nhưng, ngài nhìn về phía người ấy với cái nhìn hơi thấp hơn thường bằng cặp mắt bò đực của ngài. Anh à, ngài hỏi, có được rót chút nước thuốc dùng tế thần vào không ? - Chúng tôi tán lượng thuốc, thưa Socrate, người ấy đáp, vừa đủ để uống thôi. Hiểu rồi, ngài nói, nhưng ít nữa cũng cho phép, và đó là bổn phận, dâng lên thần thánh một lời cầu xin cho việc dời chỗ ở từ đây đến đó được xuôi xắn. Đây là lời cầu của tôi: Xin được như thế. Nói xong, không làm ra bộ khó dễ hay nhờ ai, Ngài uống một hơi cạn chén thuốc độc. Lúc đó chúng tôi hầu hết đều rán sức cầm lệ, cho tới giây phút nầy khi thấy ngài uống và uống, nên không thể giữ được nữa. Điều đó quá sức tôi; nước mắt tôi chảy cuộn nên tôi che mặt để mặc sức khóc thân tôi (vì chắc hẳn không khóc cho ngài), phải! Khóc nỗi bạc phận của tôi sẽ mất người bạn quý giá; cả Criton cũng không thể cầm nước mắt. Khóc trước tôi nên đứng dậy đi ra còn Apollodore từ lâu không lúc nào ngớt khóc, lúc đó cậu liền thốt ra những tiếng rên la thống thiết và giận dữ, khiến cho những người có mặt phải thổn thức ngậm ngùi, trừ chính Socrate: "Các anh làm gì đó vậy ?. Ngài la lớn, các anh thật dị thường. Nếu tôi đã đuổi các đàn bà là cố ý tránh cho họ khỏi sự quá độ như thế; vì người ta dạy tôi điều nầy là phải kết liễu bằng những lời phấn khởi. Thôi hãy bình tĩnh, hãy cứng rắn lên. Nghe nói như thế, chúng tôi đâm ra xấu hổ và chúng tôi nín khóc.
Còn ngài, ngài đi vòng vòng, khi ngài nói cảm thấy nặng chân. Ngài liền nằm ngửa như người cho thuốc đã dặn. Đồng thời người này thỉnh thoảng lấy tay ấn vào bàn chân, vào đùi, để khám ngài. Kế đó, hắn lấy tay xiết chặt bàn chân ngài, và hỏi ngài có cảm thấy không. Socrate nói không. Rồi hắn lần từ dưới chân lên và cứ lần lên như thế hắn cho chúng tôi biết ngài đã bắt đầu lạnh và cứng dần. Và hắn rờ ngài nữa và nói với chúng tôi rằng khi tới tim thì Socrate từ trần. Dạ dưới ngài lạnh, ngài đỡ khăn dậy và thốt ra lời này, lời sau hết: "Criton, chúng ta còn thiếu Asclipios một con gà trống, vậy hãy trả nợ giùm thầy nhớ nhé!... Được, sẽ lo xong, Criton nói. Nhưng thầy coi còn gì khác để nói nữa không. Câu hỏi của Criton không có tiếng trả lời. Một chút sau, ngài cựa mình. Người cho thuốc nhìn mặt ngài: mắt ngài đứng tròng. Thấy thế, Criton khép miệng và mắt ngài.
Echécrate! đó là cử chỉ cuối cùng dành cho người bạn của chúng ta. Chúng ta có thể quả quyết rằng: trong những người sống đồng thời với ngài, ngài là người tốt nhất và chính trực nhất.
*****
Sứ mệnh của SOCRATE
Hỡi đồng bào Aten, đây là nguyên tắc đích thực. Ai chiếm một địa vị nào, dù tự ý chọn hay được người lãnh đạo chỉ định, theo ý tôi, đều phải cương quyết giữ vững, dù phải nguy hiểm, bất chấp chết chóc gian nguy có thể xảy đến, hơn là bán rẻ danh dự.
Hỡi đồng bào thành Aten, nếu cư xử cách nào khác, tôi sẽ mang trọng tội. Đúng vậy, khi được các vị thủ lãnh do quí vị bầu lên giao cho tôi một chức vụ ở Pôtiđê, Anphipoli và Đelion, tôi đã cương quyết chu toàn mà coi thường cái chết. Khi một thần minh giao phó cho tôi, như tôi nghĩ và chấp nhận, nhiệm vụ sống để triết luận, để dò xét tôi và người khác, mà tôi lại đào ngũ vì sợ chết hay sợ gì khác sao ! Đó mới thật là điều xấu, và như thế người ta phải đưa tôi ra tòa và xét xử tội bất tuân thần thánh, bởi vì sợ chết...
Dù thế, chúng ta có thể tưởng tượng câu nói của quí vị sau đây: "Hỡi Socrate, chúng tôi không muốn tin Anytos, chúng tôi sẽ tha ông với điều kiện: ông đừng dành thời giờ dò xét người ta và triết luận nữa. Nếu ông còn tái phạm, ông sẽ chết. "Thưa quí vị quan tòa, nếu chúng muốn tha tôi mà còn bắt tôi theo điều kiện ấy, tôi sẽ thưa với quí vị rằng: "Hỡi đồng bào Aten, tôi biết ơn và quí mến quí vị, nhưng thà tôi vâng lời thần minh hơn vâng lời quí vị; bao lâu tôi còn hơi thở, còn có thể thở được, quí vị sẽ biết chắc rằng: tôi sẽ không ngừng triết luận, khuyến cáo quí vị, gặp bất cứ ai trong quí vị, tôi đều cho bài học. Tôi sẽ nói với người ấy như thường lệ: "Nầy bạn, bạn là người thành Aten, công dân của một thành lớn và danh tiếng hơn mọi thành khác, về kiến thức và quyền lực, bạn lo làm giàu gia tăng của cải, danh vọng chức quyền mà không hổ thẹn sao: còn việc trau giồi trí tuệ, chân lý và linh hồn, bạn bất cần, không thèm nghĩ tới!".
Và nếu có ai trong quí vị phản đối và quả quyết rằng mình vẫn quan tâm, quí vị đừng tưởng rằng tôi để yên họ mà bỏ đi liền đâu! Tôi sẽ chất vấn, dò xét và tranh luận ráo riết với họ. Nếu tôi biết chắc người ấy không có đức tính, dù có thói gì đi nữa, tôi vẫn trách họ coi thường điều quí giá... Tôi sẽ đối xử như vậy với bất cứ người nào tôi gặp, dù gia hay trẻ, đồng hương hay ngoại kiều, và nhất là đối với quí vị cách đặc biệt hơn, vì tình đồng bào thân thuộc. Xin quí vị hiểu cho, vì đó là điều thần minh đã dạy tôi...
Công việc duy nhất của tôi là đi khắp đường phố mà khuyên bảo quí vị, già cững như trẻ, đừng lo lắng về phần xác hay của cải cho bằng quan tâm đến phần hồn cho ngày thêm tốt đẹp. Phải, nhiệm vụ của tôi là nói với quí vị: của cải không tạo nên đức tính, đức tính không do của cải và những gì lợi ích cho tư nhân cũng như cho Quốc gia. Nếu vì lời nói đó mà tôi làm hư hỏng thanh niên, thì lời nói đó phải gây tai hại... Như thế, quí vị có tin hay không tin Anytos cũng được, tha hay không tha tôi cũng được, nhưng quí vị nên biết chắc điều nầy, là tôi không bao giờ thay đổi thái độ, dù cho tôi phải nguy hại tính mạng đến ngàn lần".
PLATON, Apologia, 28d - 29a, 29c -30 c
*****
TÌNH SƯ ĐỆ
Theo quan điểm của Socrate, mỗi người chính là trung tâm, và cả thế giới chỉ tập trung lại đó, vì biết mình tức là biết Thượng đế. Socrate đã hiểu mình như thế và theo ý ông, mỗi người phải hiểu mình như thế, hiểu mối liên lạc giữa mình với mỗi người, với tất cả sự khiêm tốn và hãnh diện. Socrate đã có can đảm và dè dặt đủ để tự túc. Thật là một điều cao thượng họa hiếm ở thời đại chúng ta. Ở thời đại nầy, cha sở hơi quan trọng hơn ông từ, và mỗi người trong hai đều là một thế giá... Socrate đã thi hành nhiệm vụ, đáp ứng với nhu cầu phát xuất từ bản thân, cũng như với những đòi hỏi do người khác. Hiểu như thế, và chúng ta biết Socrate cũng đã hiểu như thế, vị tôn sư gặp trong đời sống và những hoàn cảnh thường nhật nhiều dịp giáo huấn, đồng thời đem lại cho người khác dịp học hỏi. Mối liên lạc của ngài luôn luôn đượm màu sắc tự cảm và thông cảm. Đó cũng là quan niệm của Socrate; vì thế ông không muốn nhận lãnh danh vọng chức tước hoặc tiền bạc đền đáp công việc giáo huấn của ông. Ông xét đoán liêm chính như một người chết. Thật là điều đơn sơ họa hiếm, họa hiếm trong thời buổi bạc tiền và vòng hoa tưởng thưởng không lấn át nổi lời giáo huấn sáng chói của ông, nhưng cũng là thời buổi mà vàng bạc và mọi danh vọng trần gian được đặt ngang hàng với việc giáo huấn, vì việc nầy không đắt giá bằng. Thời đại chúng ta, như ai nấy đều biết, có điểm tích cực và được hiểu như thế. Socrate lại thiếu hẳn. Nhưng sự thiếu sót nầy không cắt nghĩa được óc hẹp hòi của ông, có lẽ vì ông nhiệt thành với những gì ăn thua với con người, vì ông như đâm ra ghen tương theo kiểu thần thánh mà quở phạt mình cũng như quở phạt người khác... Giữa người với người, không có gì cao quí hơn. Đệ tử nên dịp cho vị tôn sư hiểu biết mình, thầy nên dịp cho trò hiểu biết mình. Lúc chết, thầy không có gì để đòi hỏi nơi tâm hồn của trò, và trò cũng không có gì hơn để đòi hỏi nơi tâm hồn thầy. Hỡi ôi ! Đã có được bao nhiêu người đủ biết điều để ghi nhận ơn Socrate, dù họ không mắc nợ gì cả. Cách thức tốt đẹp nhất để hiểu Socrate là hiểu rằng mình chẳng mắc nợ gì với ông. Đó là điều Socrate đã muốn, và muốn như thế mới là đẹp. Ai tưởng mình mắc nợ Socrate điều gì, thì nên biết rằng Socrate vui lòng xóa tất cả. Và có lẽ ông sẽ buồn khi người ta nghĩ rằng ông đã ký thác một số vốn cần phải làm cho sinh lợi.
(Kierkegaard, Mảnh Vụn Triết Học )
_1 Có tài liệu viết ba tội của Socrate là : tội kinh mạn thần thánh, phá đổ nền luân lý, và đầu độc thanh thiếu niên.
_2 André Cresson, Socrate,Sđd, trang 70.
_3 Nt. trang 70
_4 Nt, trang 71.
_5 Xénophon, Mémorables IV, 11/26.
_6 Le Progrès de la conscience dans la phisolosphi occidentale, PUF.T.I, tr. 4; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm II, Sđd, trang 7.
_7 Platon, Apologie, tr. 21A-23C.
_8 Platon, Apologie de Socrate, trích lại trong G.S Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 56.
_9 Xc. André Cresson, trang 79.
_10 Trích lại trong André Cresson, Sđd, trang 83.
_11 Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang39.
_12 Lê tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương II, Sđd, trang 10.
_13 Trích lại trong André Cresson, Sđd, trang 91-92.
_14 Những đoạn sau đây trích trong tác phẩm Criton của Platon; trích lại trong Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 68-69.
_15 Xc. André Cresson, Sđd, trang 90-91.
_16 P.B. Grenet, Sđd, trang 63.
_17 Chúng ta không nên lầm với trường hợp Anaxagore, bị kết án năm 432 vì đã cố gắng định nghĩa bản chất của các tinh tú [Xc, Apologie de Platon, 27 d]; hoặc lầm lẫm với Diogène d' Apollonie, người cũng đã bị làm khó dễ.
_18 Grenet kể lại một trường hợp tương tự trong tập Troyennes của Euripide như sau :
- Hécabé : "Lạy Ngài, là Đấng nâng đỡ quả Đất, Ngài ngự trên trái đất. Dù Ngài khó được nhận biết, Ngài là thần Zeus, Thần Tất Định của Thiên Nhiên hay thần Khôn Ngoan của những người chết, tôi vẫn cầu nguyện trước mặt Ngài. Quả thật, khi bước theo một con đường không tiếng động, Ngài đã dẫn dắt những kẻ phải chết đi trong đường công chính.
- Mélélas : Cái gì vậy ? Anh đã sáng tạo một lời cầu nguyện mới với các thần ư ?. Grenet, Sđd, trang 65.
_19 Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 44-93.
_20 Jacques Montoy, cho rằng ý nghĩa hiện nay của từ "ironie" phát xuất từ lối tra vấn của Socrate luôn có tính chế nhạo [interrogation plus ou moins moqueuse]; Xc. Précis d' Histoire de la Philosophie, Les Éditons de L' École, Paris 1953, trang 18.
_21 Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Socrate, Ca Dao, in lần thứ hai, 1975, trang 46.
_22 Trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd, trang 84-85.
_23 Trong phần III quyển "Căn Nguyên Đạo Đức" [Généalogie de la Morale].
_24 "Par-delà le bien et le mal, p. 154; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, sđd, trang 63.
_25 Nếu Kitô giáo không triển khai được tính cứu độ của Kitô giáo; không khám phá ra Đức Kitô là con người tự do và giúp cho ai tin Ngài được tự do, thì quả thực Kitô giáo cũng "xứng đáng" với lời phê bình ấy.
_26 Cũng nên ghi nhận rằng Socrate không bao giờ đến kịch trường để thưởng ngoạn bi kịch, ông chỉ tham gia diễn xuất những bản kịch của Euripide.
_27 Xin coi thêm điều này trong phần giáo trình Triết Học Hiện Đại, trình bầy quan điểm của Nietzsche.
_28 Sđd, tr. 9.