Bài 23: Platon (P1) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Platon, tên thật là Aristocles, sinh khoảng năm 427 tcn trong một gia đình quí phái của thành phố Athènes. Thân mẫu của Platon là Perictioné, một phụ nữ thuộc một dòng tộc quyền quí lâu đời, trong đó có Solon, một trong bẩy vị hiền triết Hy lạp và là người đã có công lập nên hệ thống luật pháp cho thành phố Athènes. Thân phụ của Platon là Ariston lại thuộc dòng dõi Codrus, vị vua cuối cùng của thành Athènes. Khi Platon sinh ra được ít lâu thì thân phụ qua đời và thân mẫu tái hôn với một người trong họ hàng tên là Pyrilampe.
23
PLATON
(427 - 348)
Sách tham khảo riêng
1/ Bernard Genoud, Éléments pour une histoire de la pensée, cours de l' École de la Foi.
2/ Lm Ngọc Huỳnh, Triết Học Nhập Môn, Cours Đại học Văn Khoa.
1. Tiểu sử
Platon, tên thật là Aristocles, sinh khoảng năm 427 tcn trong một gia đình quí phái của thành phố Athènes. Thân mẫu của Platon là Perictioné, một phụ nữ thuộc một dòng tộc quyền quí lâu đời, trong đó có Solon, một trong bẩy vị hiền triết Hy lạp và là người đã có công lập nên hệ thống luật pháp cho thành phố Athènes. Thân phụ của Platon là Ariston lại thuộc dòng dõi Codrus, vị vua cuối cùng của thành Athènes. Khi Platon sinh ra được ít lâu thì thân phụ qua đời và thân mẫu tái hôn với một người trong họ hàng tên là Pyrilampe.
Tên thật là Platon là Aristocles, cùng tên với ông nội. Khi còn nhỏ, Platon được mẹ chăm sóc dạy dỗ; từ 7 đến 14 tuổi, Platon được học âm nhạc, đọc, viết và tính toán. Sau 14 tuổi, ông được tập luyện môn thể dục. Platon có một vóc dáng khỏe mạnh, to lớn, và là một lực sĩ đã hai lần đoạt giải điền kinh của thành phố. Tên Platon, nghĩa là to rộng, có lẽ cũng được đặt cho ông vì thân hình vạn vỡ đó.
Hơn nữa, Platon còn là một con người có tư chất thông minh đặc biệt; ông không thỏa mãn với nền giáo dục mình được lãnh nhận. Năm 18 tuổi, ông bắt đầu đi nghe các buổi nói chuyện của các nhà ngụy biện. Ban đầu, ông học triết lý với Cratyle, và đã sáng tác những vầng thơ, những bi kịch. Năm 20 tuổi, Platon gặp Socrate và tìm thấy định hướng triết lý của mình. Platon nói rằng : "Tôi cảm ơn Trời đã cho tôi làm một người Hy lạp chứ không phải một dân mọi rợ, một người tự do chứ không phải một nô lệ, một người đàn ông chó không phải một người đàn bà, và quan trọng nhất là được sinh vào thời Socrate" [1]. Ông đốt hết các thơ trước đây của mình và trở thành một môn đệ trung tín của Socrate. Cuộc gặp gỡ với Socrate và nhất là biến cố Socrate bị kết án uống thuốc độc sẽ trở nên một ấn dấu sâu đậm nơi tâm hồn và hướng dẫn tất cả cuộc đời một người thanh niên nhiệt thành, đầy tưởng như Platon. Ông quyết tâm xây dựng một thể chế chính trị tuyệt hảo.
Platon quả là một con người "văn võ song toàn", một nhân cách đặc biệt được nhồi nặn từ trong lịch sử của một thành phố đặc biệt như Athènes. Khi Platon được 4 tuổi, cuộc chiến tranh Péloponèse đã bùng nổ; và khi ông 31 tuổi, thành phố Athènes bị suy sụp trước sức tấn công của liên quân giữa thành Sparte và Ba tư. Sự thua trận này kéo theo những suy thoái về kinh tế, dịch tễ, đói khát... Dưới sự chi phối của Sparte, thành phố Athènes được cai trị với 30 vị bạo vương (trong đó cũng có một số người thân thuộc của Platon), và họ dùng chính sách áp bức, khủng bố. Những điều này làm cho Platon thất vọng, và ông ôm mộng xây dựng một kiểu đo thị mới, với sự cai trị sáng suốt bằng sự khôn ngoan.
Sau khi Socrate mất đi, Platon du lịch nhiều nơi, trước tiên là Mégare, nơi người bạn và đồng nghiệp của Ông là Euclite, người đã thiết lập học phái Mégare; và có lẽ ở đây, ông được hấp thụ tư tưởng của Parménide và phương pháp suy tư biện chứng của Euclide. Rồi Platon đến Cyrène, Ai Cập, Ý và Sicile [2]. Tại Ai Cập, ông học thiên văn và niềm đam mê hiểu biết tại Ý, ông lại hấp thụ toán, âm nhạc cũng như tư tưởng của Pythagore và của trường phái Éléates. Tại Sicicle, ông cố gắng đưa học thuyết của mình áp dụng vào triều đình vua Denis I. Ở đây, ông làm bạn thân với Dion, em rể của nhà vua. Nhưng rồi ông lại bị nhà vua ganh ghét và bị cưỡng bách xuống một chiếc thuyền của Sparte, đang lúc mà quân Sparte đang đánh nhau với quân Athènes. Ông bị bán làm nô lệ ở đảo Egine. Nhưng Platon được một triết gia Cyrénaique chuộc lại và được giải phóng.
Năm 388, sau 10 năm du hành nhiều nơi, ông trở lại Athènes, mua lại một trường học nằm trong một khu vườn rộng tên là Academie [3], ở phía Tây Bắc thành phố Athènes, và thiết lập một trường hoc lấy tên là Academie. Ở đây, ông mở lớp dạy học và nhiều người, đa số thuộc gia đình quý tộc, từ khắp nơi đến nghe Platon giảng; có nhiều giáo sư tên tuổi cũng đến thụ giáo với Platon như : Xénocrate, Hocrate. Lycurgue, Amosthènes; người ta nói có cả nữ giới cải trang nam nhân để được tiếp nhận vào trường. Trường Académie có mục đích đào tạo những nhà lãnh đạo tương lai của quốc gia, bằng phương cách học tập triết lý. Khác với học sinh khác, đồ đệ ông ăn mặc đường hoàng, chải chuốt kỹ lưỡng. Platon dạy học tại đây hơn 20 năm; trường Académie tồn tại hơn 850 năm. Năm 529 cn, hoàng đế Justinien ra lệnh đóng cửa.
Trong khi đó, tại Syracuse, bạo vương Denis I qua đời năm 366 và vị thái tử lên ngôi với danh hiệu Denis II. Qua trung gian của Dion, Platon lại được mời về để thiết lập một quốc gia theo tinh thần mới. Tuy nhiên, chẳng được bao lâu, vua Denis II lại cũng nghi ngờ sự liên kết giữa Dion và Platon; Dion bị đi đầy, còn Platon bị bắt giam. Sau đó, ông được thả và trở về Athènes dạy học.
Năm 365, người thanh niên trẻ Aristote đến trường và trở thành môn đệ xuất sắc nhất của Platon.
Năm 362-361, Platon lại được mời sang Syracuse một lần thứ ba và ông cũng nhận lời. Lần này, ông bào chữa cho Dion nhưng không thành công và lại bị bắt giam. Lần này, nhờ sự can thiệp của Archytas, một triết gia theo trường phái Pythagore, ông được thả. Lúc này Platon đã 74 tuổi; ông ở lại Athènes dạy học cho đến cuối đời. Ông mất năm 347, lúc 81 tuổi, không vợ, không con.
2. Tác Phẩm
2.1. Nói chung về tác phẩm của Platon
Toàn bộ văn phẩm của ông còn lưu lại hầu như nguyên vẹn [4]. Platon viết khoảng 24 "đối thoại" và 13 bức thư. Hầu hết các tác phẩm của Platon đều được trình bầy bằng các "đối thoại", được dàn dựng như một vở kịch; và trong hầu hết các đối thoại, Socrate là nhân vật chính; chỉ trong tập "Les Lois" là không có nhân vật Socrate. Platon thường trình bày lý thuyết triết lý của mình bằng những câu chuyện, những huyền thoại, với những hình ảnh ẩn dụ.
Người ta không đồng ý với nhau về sự "chính lục" của các tác phẩm Platon. Nhiều người không chấp nhận các bức thư thật sự là của Platon viết [5]; nhưng do các nhà tu từ học thành Athènes. Tuy nhiên, các nhà phê bình hiện đại kể chúng là văn phẩm của chính Platon. Ngoài ra, còn có một số đối thoại mà văn thể cũng như tư tưởng khó có thể phù hợp với Platon.
Việc nghiên cứu Platon gặp một số khó khăn vì khó tìm ra một hệ thống tư tưởng thống nhất và mạch lạc. Người ta dễ sai lầm khi giải thích Platon-trẻ bằng những lý thuyết của một Platon-già. Thật ra, tư tưởng của Platon có một sự tiến triển theo bước suy tư; muốn hiểu đúng Platon, cũng phải dõi theo các bước tiến triển đó.
Vì trong các tác phẩm của Platon, người ta khó biết được hoàn cảnh cũng như mục đích của tác phẩm, nên người ta cũng bàn bạc nhiều về cách thức sắp xếp các tác phẩm. Nói chung, hiện nay người ta không đồng ý về cách sắp xếp xa xưa hoặc của thời Trung Cổ. Đã có nhiều phương pháp đề nghị trong việc sắp xếp, chẳng hạn sắp xếp theo sự tiến triển của tư tưởng triết lý, hoặc theo thứ tự các đề tài đã được triết gia bàn đến, căn cứ trên phương diện lịch sử. Có tác giả đề nghị xác định năm tháng "Đối thoại" bằng cách áp dụng phương pháp thống kê về từ ngữ (Statistique verbale)...
2. Phân loại tác phẩm
Ta có thể theo cách sắp xếp của Bréhier như sau:
a. Những tác phẩm thời trẻ : Người ta cũng gọi là những đối thoại nhỏ (petits Dialogues); hoặc những tác phẩm mang tính Socrate (Dialogues socratiques). Đây là những tác phẩm viết trước hoặc liền ngay sau khi Socrate qua đời : Protagoras (vấn đề ngụy biện), Ion, Apologie de Socrate, Criton, Euthyphron, Charmide, Lachès, Lysis, Hippias majeur (không chắc của Platon), Hippias mineur, République I (vấn đề chính trị).
b. Những tác phẩm viết trước khi thành lập "Académie": Gorgias (vấn đề tu từ học).
c. Những "Đối thoại" nêu chương trình của học đường: Ménon (vấn đề đạo đức), Ménexène, Euthydème, République II-X.
d. "Đối thoại" phát họa chân dung của Socrate: Phédon (vấn đề linh hồn bất tử), Banquet (vấn đề tình ái), Phèdre (vấn đề mỹ cảm).
e. "Đối thoại" đề xướng một quan niệm về khoa học và luân lý học : Cratyle, Théetète (vấn đề tri thức), Parménide (vấn đề ý tưởng), Sophiste (vấn đề thực thể), Politique.
f. "Đối thoại" cuối đời : Timée (vấn đề vũ trụ), Critias, Epinomis.
g. Nhiều "Đối thoại" bị loại ra và kể như không "chính lục" (Inauthentique): Alcibiade I và II, Les Rivaux, Théagès, Clitophon, Minon.
3. Tư Tưởng
3.1 Những vấn đề chung
3.1.1. Bầu khí tư tưởng thời đại
Khi Platon bắt đầu những suy tư của mình, trong sinh hoạt trí thức của xã hội Athènes có hai luồng tư tưởng đối lập. Một đàng, những nhà tư tưởng Ioniens, cũng như nhóm Pythagore, đề ra những giả thuyết "võ đoán" về các vấn đề vũ trụ; đàng khác, nhóm ngụy biện gia lại thổi vào quần chúng một luồng tư tưởng tương đối, chủ quan, làm cho người ta nghi ngờ chính khả năng của con người; họ là những người mở đường cho phong trào hoài nghi.
Mặt khác, vấn đề căn bản của người Hy lạp vấn đề trường tồn và biến chuyển, hay vấn đề đơn thể và đa thể. Những điều đó chắc chắn cũng là mối bận tâm của Platon trong những suy tư và trong những giải quyết của ông.
Dựa theo đường lối và tinh thần của Thầy mình, socrate, Ông đã tìm cách giải quyềt bằng cách thức của riêng mình, đó là học thuyết ý-tưởng. Tư tưởng của Platon còn nền tảng siêu hình chi phối sâu xa trên tinh thần của thế giới tây phương sau này.
Gérard Genoud lưu ý nên nắm vững hai điều như bối cảnh nền tảng của tư tưởng Platon :
a. Dân chúng có những nhu cầu thực sự về các truyền thống tôn giáo; như vậy, tư tưởng triết lý khi ấy cũng cần phải giải thích về tôn giáo, về Thượng Đế...
b. Nhưng nhu cầu này phải được hướng về nhiiều lãnh vực khác, theo như vấn nạn của Socrate: vượt qua tôn giáo, ông tìm một sự khôn ngoan triết học; sự khôn ngoan này không chống lại nhưng bao gồm tôn giáo. Triết học có nghĩa là đời sống nhân đức cộng với sự hiểu biết khoa học.
Tuy nhiên, công trình của Platon không phải đơn thuần là câu trả lời của một thời điểm cho một hoàn cảnh lịch sử. Công trình của ông vần giữ được giá trị, hướng tới một tri thức tuyệt đối và mang chiều kích phổ quát.
3.1.2. Phương pháp
Platon thường trình bầy tư tưởng của mình bằng những đối thoại những những vở kịch; trong đó, có tứ thơ lai láng hòa cùng âm điệu hùng hồn; có những lý luận sắc bén cùng với giọng văn châm biếm, hài hước. Phương pháp này có nhiều nét gần gũi với các triết gia hiện sinh của thế kỷ XX. Tuy nhiên, lối trình bầy như thế của Platon, cùng với những tư tưởng phong phú trong đó, khiến cho người ta khó đồng ý với nhau về nội dung tư tưởng của ông [6].
3.1.3. Quan niệm về triết gia
Platon bị ám ảnh về cái chết của thầy. Đối với ông, Socrate là một triết gia gương mẫu, có tư cách, có tài và là một người ân cần phục vụ quê hương; thế nhưng Socrate lại bị vu khống, thù ghét và bị giết. Điều đó vừa là một nỗi đau, vừa là một lời kêu mời Platon cố gắng xây dựng lại xã hội con người. Ông muốn một tổ chức xã hội phải đặt trọng tâm nơi việc giáo dục, để tạo nên những con người công bằng, chính trực. Ông chủ trương rằng một xã hội tạo được những điều đó phải là một xã hội được lãnh đạo do các triết gia, hoặc do những nhà lãnh đạo biết chăm chú nghiên cứu triết học.
Platon trình bầy hình ảnh triết gia qua nhiều tác phẩm :
- Trong Phédon : triết gia là người thoát được những vướng bận của thân xác để sống bằng tinh thần, không sợ chết (64a sp.).
- Trong Théétète : Triết gia là người vụng về trong cách sử trí, không thích nghi với xã hội và không ảnh hưởng trên xã hội (172c-177c).
- Trong République, triết gia lại là người lãnh đạo và bảo vệ những giá trị của xã hội
- Trong Phèdre (244a) và trong Banquet (210a), triết gia lại là người có cảm hứng như một nhà thần bí, say mê những gì siêu việt trên cuộc sống.
Ta có thể hiểu hình ảnh triết gia của Platon bao gồm hai nét :
a/ Triết gia phải khác cuộc đời, vượt trên những vướng bận tầm thường của đời sống.
b/ Triết gia phải là người góp phần xây dựng xã hội cho công bằng và tốt đẹp.
Đó là hai mặt rất khác biệt nhau, nhưng phải được hòa hợp trong con người của triết gia. Sứ mệnh của triết gia giải phóng con người, giúp người ta vượt qua những quyến rủ của hạ giới để vươn mình lên chiêm ngưỡng và tận hưởng nguồn hạnh phúc vô biên.
Chú thích
[1] Trích lại trong Will Durant, Sđd, trang 25.
[2] Có người cho rằng ông đã đến Judée và đến tận sông Hằng để học hỏi với các hiền triết Ấn Độ. Xc. Will Durant, Sđd, trang 27.
[3] Có tài liệu ghi là khu vườn của một người bạn tên là Academus, nên ngôi trường của Platon cũng được gọi là trường Academie.
[4] Những thủ bản (manuscrits) được sao lục kỹ càng lối thế kỷ IX cn. Một trong bản sao nầy còn lưu trữ tại thư viện quốc gia Pháp, nhưng không hoàn bị. Thư viện Oxford (Anh) còn giữ một thủ bản gần đầy đủ, sao lục lối năm 895. Nhiều bản khác từ thế kỷ XI và XII, đem lại nhiều chỉ dẫn quan trọng để chỉnh đốn lại nguyên bản của Platon. Gần đây các nhà khảo cổ, trong khi đào quật nhiều cố đô Ai Cập đã tìm thấy nhiều "papyries", thế kỷ XI và III công lịch, ghi chép nhiều đoạn "Đối thoại", người ta đã tìm gặp một đoạn "Đối thoại Phédon" thế kỷ thứ III, nghĩa là không đầy một thế kỷ sau khi "Đối thoại" đã được phổ biến cho đại chúng.
[5] Người ta nói đùa rằng : khi Socrate đọc một vài đoạn sách của học trò, ông đã ngạc nhiên mà nói "Anh chàng này gán cho ta nhiều từ mà ta chưa nghĩ tới".
[6] A. Cresson viết "un interprète qui aurait la prétention de faire connaitre sans contestation possible les véritables doctrines de Platon risquerait fort de se faire à lui-même et de créer chez les autres de graves illusions". Platon, Sa vie, son oeuvres, sa philosophie; Paris P.U.F. 1959, p.9; trích lại trong Lâm Ngọc Huỳnh, Triết Học Nhập Môn, ronéo, cours Đại Học Văn Khoa, trang 57.