Bài 23: Platon (P2)- Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Đây là trọng tâm tư tưởng của Platon; và học thuyết này chính là nền tảng siêu hình; từ đó, tất cả những đề tài khác như luân lý, chính trị ... được xây dựng, thông qua ngả đường của tri thức luận. Phần chính yếu về học thuyết này không nhiều, nhưng nó thấm nhập tất cả mọi nơi trong các lý thuyết của Platon.

II/ HỌC THUYẾT "Ý TƯỞNG"

Đây là trọng tâm tư tưởng của Platon; và học thuyết này chính là nền tảng siêu hình; từ đó, tất cả những đề tài khác như luân lý, chính trị ... được xây dựng, thông qua ngả đường của tri thức luận. Phần chính yếu về học thuyết này không nhiều, nhưng nó thấm nhập tất cả mọi nơi trong các lý thuyết của Platon.

1. Huyền thoại Hang Động

Platon trình bày thuyết ý tưởng trong một huyền thoại trứ danh, "Huyền Thoại Hang Động". Chúng ta ghi nhận một vài nét đại cương sau đây :

Thế giới con người giống như một hang đá; trong đó có một đám tù nhân bị xiềng, quay mặt vào vách tường. Họ chỉ có thể thấy được bóng của những sinh hoạt đích thực, được chiếu qua miệng hang và in bóng trên vách đáy hang. Khi đó, các tù nhân sẽ tưởng các bóng đó như là đối tượng thực sự. Nhưng nếu có tù nhân nào được thả ra và thấy tận mắt chính các sự vật ở ngoài và nguồn ánh sáng thật, hắn sẽ khám phá ra một thế giới khác hẳn. Nhưng khi trở vào hang, thuật lại cho các bạn về các điều mình đã mắt thấy tai nghe. Nhưng những người này không tin và chế nhạo hắn.

Đó là thân phận của con người tại thế. Ở trần gian này, con người bị "mờ mắt" vì những ảo ảnh sai lạc do giác quan mang lại; nhưng giác quan lại chỉ thấy được những điều không vững chắc, hay thay đổi, phù phiếm. Chỉ có các ý tưởng mới thật là thực tại, trong một thế giới vĩnh cửu, trường tồn. Các sự vật trần gian chỉ là những biểu hiện bất toàn của thế giới ý tưởng [7].

2. Thế giới Ý Tưởng

Ý tưởng là gì ? Đó là một "mô hình" mẫu của tất cả những sự vật cùng một loại. Anh Xoài và anh Mít, đều chỉ là phản ảnh của một ý tưởng "người"; cái bàn tròn và cái bàn vuông cũng chỉ là phản ảnh của một ý tưởng "bàn"...v....v... Hơn nữa, các ý tưởng cùng một giống như ý tưởng "bò" và ý tưởng "ngựa" đều cùng liên hệ đến ý tưởng "loài có vú"; Rồi ý tưởng "loài có vú" lại liên hệ đến ý tưởng "phụng hoàng", vì cả hai cũng liên hệ đến ý tưởng loài thú động vật. Đó là lý thuyết "thông dự". Ông cho rằng sở dĩ ta có thể có một phán quyết, nghĩa là gắn một thuộc tính này với một thuộc tính khác, là vì trên thế giới ý tưởng, những ý tưởng của thuộc tính đó qui hướng về nhau; chẳng hạn ý tưởng "lạnh" thông dự với ý tưởng "tuyết". Như vậy, phán quyết cũng là nêu lên tính chất thông dự đã có từ đời đời trong thế giới ý tưởng.

Từ đó, Platon có thể cắt nghĩa được lý do của sự những biến chuyển trong thế giới. Sự vật xuất hiện dưới hai khía cạnh như thể đối lập nhau : đơn thể và đa thể; đơn thể, vì cùng tham dự vào một ý tưởng; đa thể, vì các sự vật đó là những hiện thân bất toàn và dị biệt trong thế giới.

Hơn nữa, học thuyết ý tưởng của Platon cũng có thể cắt nghĩa được sự biến chuyển mà không cần có sự can dự của hư vô. Nếu không, người ta sẽ gặp khó khăn khi giải thích sự biến chuyển như một quá trình chuyển tiếp từ hữu thể, rồi thôi không còn là hữu thể (hư vô), để có thể biến thành một hữu thể khác.

Sau hết, tùy theo mức tham dự vào ý tưởng, mà các sự vật có thể phát triển và tiến đến giai đoạn hoàn bị hơn. Platon đồng ý về những hiện tượng biến chuyển trong vũ trụ. Nhưng ông chỉ coi đó như là những cố gắng của sự vật để tiến gần tới ý tưởng bất biến mà thôi.

Ta thấy rằng, trong học thuyết lý tưởng của Platon, những khái niệm, theo kiểu Socrate, đã được biến thành nhưng thực tại hiện hữu thật, trường tồn, hoàn toàn khả tri, và là nguyên nhân của mọi thực tại khác. Đó là điểu, sau này người ta gọi là khuynh hướng duy thực (réalisme).

theo Schuhl chúng ta có thể phác học sơ đồ học thuyết lý tưởng của Platon như sau :

SỰ THIỆN
Những Ý TưởngBiện chứng pháp
Đối tượng toán họctri thức toán học
Vật giớiThường kiến
Những đối tượng khả giáctin tưởng
những hình bóngảo tưởng
HƯ VÔ

Giải thích

1/ Tri thức toán học và biện chứng pháp

Tri thức toán học là sự hiểu biết những tương quan song song hoặc tương đối với nhau; tri thức toán học luôn phải khởi đi từ một định đề được giả thiết trước và kết luận không vượt qua được định đề đó.

Biện Chứng Pháp là lối suy tư triệt để hơn; nó cũng khởi từ một tiền đề, nhưng phải kiểm chứng lại tiền đề đó để tìm đến những nguyên lý (archè). Biện chứng pháp là lối tư tưởng có thể vươn tới những gì không bao hàm trong tiền đề; nó giúp tìm đến yếu tính của sự vật. Biện chứng pháp là kỹ thuật "sản sinh ra yếu tính", là "nghệ thuật đế vương có khả năng chi phối tất cả", là "tri thức của mọi tri thức".

2/ Có hai thứ biện chứng pháp

a/ Biện chứng pháp đi lên

Khởi từ những sự vật tạp đa để đi đến cái đơn nhất, để khám phá ra các nguyên lý, rồi sau đó, nó cũng khởi đi từ các ý tưởng để đi đến một ý tưởng tối cao là ý tưởng Thiện.

b/ Biện chứng pháp đi xuống

Tức khởi đi từ các nguyên lý để áp dụng vào các sự vật. Platon so sánh biện chứng gia như người mổ heo, có khả năng giải phẫu một con heo theo lườn tự nhiên của nó.

3/ Bản Chất thế giới ý tưởng

Xénophane ghi nhận về học thuyết ý tưởng của Platon như sau :

"Ý-Tưởng là nguyên nhân được coi như mô phạm cho những sự vật mà cấu thành của chúng đã được ghi trên bản tính của chúng tự đời đời".

Ta ghi nhận một số nét qua định nghĩa này

a/ Ý tưởng là những bản thể hay bản chất (substance); nghĩa là cái đứng bên dưới, nó không lệ thuộc vào các đặc tính, có thể tác rời khỏi các đặc tính, nhưng các đặc tính thì không thể tách lìa khỏi bản thể.

b/ Ý tưởng có tính cách phổ biến : một ý tưởng bàn, không phải là cái bàn này hay cái bàn kia, nhưng là tất cả cái bàn. Sau này, người ta gọi là các "phổ biến niệm" [les universeaux].

c/ Ý tưởng không phải là những ý tưởng trong đầu của ta, vì ý tưởng trong đầu của ta không phải là nguyên nhân nhân của các sự vật. Cũng không phải là ý tưởng của Thiên Chúa, vì triết học Platon không nại đến giải thích một Thiên Chúa toàn năng như trong Kitô giáo. Đây là những ý tưởng khách quan, tự nội, không lệ thuộc một chủ tri nào.

d/ Ý tưởng là cái gì đơn nhất : Tuy có nhiều người, nhưng chỉ có một ý tưởng về người, chỉ có một ý tưởng cho mỗi loại vật.

e/ Ý tưởng có tính chất bất biến và bất diệt, giống như một định nghĩa; lý tưởng là một chân lý trước sau như một.

g/ Ý tưởng không lệ thuộc không gian hay thời gian : ta không bắt gặp nó hiện diện ở một nơi nào.

h/ Ý tưởng là yếu tính cho muôn vật.

Chú thích

[7] Nhưng thế giới ý tưởng ở đâu ? Khi Platon xử dụng lối văn huyền thoại, triết gia định vị trí thế giới ý tưởng ở trên tầng trời cao nhất. Trái lại, khi Platon dùng ngôn ngữ triết lý, tác giả dường như muốn thoái thác, không xác định nơi nào; ông chỉ nói trống là "không xa đây, gần đây lắm !".

< Xem lại phần 1

Xem tiếp phần 3 >