Bài 23: Platon (P5) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Vấn đề đạo đức cá nhân phải chuyển đến vấn đề xã hội. Tổ chức xã hội phải tuân theo những qui luật để tạo nên một thứ đạo đức cộng đồng.

VI. XÃ HỘI CON NGƯỜI

1. Tổ chức xã hội

Vấn đề đạo đức cá nhân phải chuyển đến vấn đề xã hội. Tổ chức xã hội phải tuân theo những qui luật để tạo nên một thứ đạo đức cộng đồng.

Platon có khuynh hướng về chế độ cộng hòa quân chủ. Trong xã hội, người thủ lãnh phải là người khôn ngoan, trên 50 tuổi, có đời sống đạo đức và nhiêu kinh nghiệm. Tổ chức xã hội phải giúp cho người dân được hạnh phúc; quyền bính là để giữ trật tự.

Cộng đồng xã hội có mục đích trợ giúp lẫn nhau để giúp nhau tìm được hạnh phúc. Muốn vậy, phải có một sự phân công hợp lý. Platon cho rằng, tự bản chất, cộng đồng xã hội là là một tập hơp những thành phần không bình đẳng, không giống nhau, và có những khả năng khác nhau; vì thế, phải có những chức vụ khác nhau,

Platon cũng là người đầu tiên có chủ trương về một xã hội "cộng sản", trong đó, giới quân nhân và giới lãnh đạo không có của cải riêng, không có gia đình và vợ con riêng.

Triết gia phân chia xã hội làm ba giai cấp: nhà lãnh đạo, binh sĩ và công nhân (hoặc bốn cấp, nếu kể cả giai cấp nô lệ).; được sắp xếp như sau :

a/ Gioai cấp "đồng" và "sắt" : gồm các thương gia , thợ thủ công, nông dân và nô lệ. Công việc chính yếu của giai cấp này là sản xuất; nhân đức chính yếu của họ là tiết độ. giai cấp này tương đương với " linh hồn cảm giac trong con người"

b/ Giai cấp "bạc" gồm các binh lính. công việc chính của giai cấp này là bảo vệ quê hương. Nhân đức của giai cấp này là "can đảm". Giai cấp này tương đương với trái tim và đam mê trong con người.

c/ Giai cấp "vàng" : gồm các nhà lãnh đạo, tức các triết gia. Những người này tạo nên những cơ quan hành pháp và lập pháp để điều hành quốc gia. Chỉ giai cấp này mới được làm chính trị. Nhân đức của giai cấp này là khôn ngoan. Họ là đầu não của quốc gia, tương đương với trí năng suy tư trong con người.

Tổ chức xã hội theo Platon, giống như trong học thuyết ý tưởng của ông, có một sự sắp xếp theo tôn ti trật tự. Thánh phần nào sống đúng với trách nhiệm và nhân đức riêng của mình, đó chính là sự công chính. Nếu mỗi các nhân trong mỗi thành phần chu toàn trọn vẹn trách nhiệm của mình, thì cộng đồng sẽ tốt; và ngược lại, một cộng đồng tốt cũng sẽ góp phần tạo nên những cá nhân tốt.

2. Tổ chức giáo dục trong cộng đồng lý tưởng của Platon

- Từ sinh ra đến 3 tuổi : săn sóc thân xác.

- Từ 3 đến 6 tuổi : giáo dục luân thường đạo lý bằng cáqch kể cho chúng nghe những huyền thoại. Nhưng phải kiểm soát kỹ các huyền thoại này. Không được kể cho chúng nghe các thần thoại của Homère và Hésiode, vì trong đó, các ông này đã trình bầy các thần có những hành vi xấu; nhiều vị thần có những hành vi không được đẹp lắm; chẳng hạn Homère nói "trong số những vị thần đáng kính, có vị cười ngây ngất"; trong đó cũng nói những điều làm cho người ta sợ chết, ca tụng những bữa tiệc xa hoa dâm đãng. Cũng phải loại bỏ những tác phẩm của những thi sĩ chỉ biết bắt chước. Cần phải tìm những huyền thoại có thể giúp các trẻ biết tìm cái đẹp.

- Từ 7 đến 10 tuổi : luyện tập thể thao

- Từ 11 đến 13 tuổi : học đọc và viết.

- Từ 14 đến 16 tuổi : học thi ca, âm nhạc.

- Từ 16 đến 18 tuổi : học toán.

- Từ 18 đến 20 tuổi : học quân sự.

- Từ 20 tuổi, nhà nước bắt đầu tuyển trạch để xếp loại các em :

. Những em tầm thường được xếp vào giai cấp "sắt hay đồng".

. Những em khỏe mạnh và can đảm được xếp vào giai cấp "bạc".

. Những em thông minh và khôn ngoan được xếp vào giai cấp "vàng".

* Với giai cấp "bạc", các em sẽ được học thêm về thể dục và âm nhạc

. Âm nhạc (theo nghĩa rộng, gồm các bộ môn nghệ thuật...) để đào luyện tâm hồn và ý chí; các em phải hát hay nghe những bản nhạc hùng hồn phấn khởi và cấm tuyệt những loại nhạc ru ngủ uỷ mị; không được dùng ống tiêu, và đàn nhiều dây, đàn cầm, vì chúng dễ gây xao động tâm hồn, chỉ dùng đàn 3 dây (tétracorde) mà thôi.

. Nhưng cần nhất là học thể dục và những gì giúp cho tay chân khéo léo; nhằm tập các chiến sĩ tương lai trở thành những đoàn quân tinh nhuệ, kinh nghiệm, dẻo dai và dũng cảm. Khi ra trận, binh lính không cần quân-y; người lính bị thương phải tự lực để bình phục.

* Với giai cấp "vàng" : các em sẽ được học đặc biệt về : toán số, hình học, thiên văn, hòa âm và nhất là biện chứng pháp.

Đến 30 tuổi, các em trong giai cấp này lại trải qua một cuộc tuyển trạch nữa. Những em ít xuất sắc thì được giữ những vai trò lạnh đạo phụ thuộc. Những em xuất sắc thì được học thêm vài năm về Biện Chứng Pháp, học luân lý. Khi nào đã thấu hiểu sự Thiện tối cao thì có thể đảm nhận những trách vụ trong quốc gia.

Nhưng người trong giai cấp lãnh đạo là người biết phục vụ quyền lợi của toàn dân, có khả năng hoàn hảo và phải nêu gương mẫu dũng cảm. Ai khiếp nhược, sẽ đương nhiên bị khai trừ. Người lãnh đạo phải dầy dạn kinh nghiệm, nên chỉ có thể đảm nhận trách nhiệm khi tới 50 tuổi.

Platon công nhận nhà cầm quyền được phép nói dối dân. Đó là một phương cách mà chỉ có nhà lãnh đạo được sử dụng mà thôi.

Cộng đoàn lý tưởng được điều hành theo chế độ cộng sản, tất cả là của chung, kể cả vấn đề phu thê. Họ sống tập thể, ăn chung; nam nữ để được huấn luyện theo một chương trình duy nhất. Các chiến sĩ sống chung với nhau ở võ trường. Cấm không được sử dụng vàng bạc. Việc truyền sinh được áp dụng theo phương pháp tuyển trạch để có thể tuyển chọn những giống tốt. Trẻ em sinh ra được nuôi dạy chung, không biết cha mẹ chúng là ai và cha mẹ không không biết đứa nào là con của mình cả. Để có một nòi giống tốt, Platon cũng chủ trương hạn chế sinh sản đối với những người không thể tạo nên nòi giống tốt, lưu đầy hoặc giết những người không thể sống hòa hợp với cộng đồng; bỏ mặc những người bị các chứng bệnh nan y; giết những trẻ sinh ra tàn tật hoặc là quái thai.

3. Chế độ chính trị

Có thể có nhiều hình thức chính trị như quân chủ (monarchie; khi có một lãnh tụ cai trị); quí tộc (aristocratie, khi một số người cùng cai trị).

Nhưng Platon cũng cảnh giác về sự sa đọa của các chế độ chính trị đó như :

- Chính thể phú hào hoặc danh vọng (Timécratie) : Nếu tiền bạc là tiêu chuẩn, tất nhiên cấp lãnh đạo sẽ chạy theo tiền tài và làm hư hoại chuyện quốc sự .

- Chính thể đại tộc hay thiểu số (oligarchie) : Chưa chắc nhóm người này có đủ khả năng và tư cách lo cho quốc thái dân an.

- Chính thể dân chủ (démocratie) cũng không hơn gì; vì dân chúng thường là dốt nát, vô luân.

- Chính thể chuyên chế (tyranie). Đây thực sự là chế độ đáng sợ. Khi một con người thiếu tư cách, thiếu niềm tin, thiếu tinh thần kỷ luật và đạo đức mà lại nắm quyền chuyên chế thì thật là bi đát; nhưng chuyện đó lại khá thường xảy ra.

IV. KẾT LUẬN

Có lẽ Platon không phải là người bỏ quên hạ giới như người ta tưởng. Ngược lại, Platon là người thiết tha xây dựng một cuộc sống hợp lý, kỷ cương, khôn ngoan để mang lại hạnh phúc cho con người. Nhưng ông đã lấy thượng giới làm mẫu mực; và cái thượng giới mà ông đã lấy làm mẫu mực cho hạ giới thật ra lại chỉ là sản phẩm của một tinh thần duy lý có phần khá cực đoan của chính đầu óc mình.

Hệ thống triết học của Platon vừa có những gì rất cao quí, rất siêu thoát, rất hài hòa; nhưng cũng mang vết tích của một một cưỡng bức thực tại rất thô bạo.

Ảnh hưởng của Platon rất sâu rộng trong thế giới Tây phương cũng như trong thần học Kitô giáo. Khuynh hướng "siêu vượt" của Platon tạo nên cả một dòng tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử. Nhưng có lẽ học thuyết cũng như ảnh hưởng đó cần một đối trọng có ngang tầm để làm cân bằng cái nhìn siêu việt này. Chúng ta không phải đợi lâu, chính Aristote, người học trò ưu tú của Platon đã làm công việc này.

< Xem lại phần 4

Xem tiếp phần 6 >