Bài 23: Platon (P6) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
- Bây giờ, tôi nói tiếp, bạn hãy hình dung bản tính của chúng ta, trong trường hợp nó được hay không được sự giáo dục soi sáng, theo bức tranh sau đây. Bạn hãy hình dung những người đang ở trong một ngôi nhà hầm kiểu động đá cửa nhà quay về phía ánh sáng, mở rộng theo chiều dài của mặt tiền. Họ sống ở đó từ lúc thơ ấu, chân và cổ mang xiềng, nên họ không dời chỗ được cũng không nhìn đâu được hơn là nhìn đằng trước mặt họ, vì xiềng xích không để cho họ quay đầu; đàng xa, trên nơi cao, sau lưng họ, có một đống lửa cháy sáng, khoảng giữa đống lửa và tù nhân có một con đường cao: bạn hãy hình dung dọc theo con đường có một hàng rào tương tự như tấm màn mà các nhà biểu diễn hình nộm dùng để phân cách họ và khán giả và họ sẽ trình bày pháp thuật trên đó.
TRÍCH VĂN
HUYỀN THOẠI ĐỘNG ĐÁ
- Bây giờ, tôi nói tiếp, bạn hãy hình dung bản tính của chúng ta, trong trường hợp nó được hay không được sự giáo dục soi sáng, theo bức tranh sau đây. Bạn hãy hình dung những người đang ở trong một ngôi nhà hầm kiểu động đá cửa nhà quay về phía ánh sáng, mở rộng theo chiều dài của mặt tiền. Họ sống ở đó từ lúc thơ ấu, chân và cổ mang xiềng, nên họ không dời chỗ được cũng không nhìn đâu được hơn là nhìn đằng trước mặt họ, vì xiềng xích không để cho họ quay đầu; đàng xa, trên nơi cao, sau lưng họ, có một đống lửa cháy sáng, khoảng giữa đống lửa và tù nhân có một con đường cao: bạn hãy hình dung dọc theo con đường có một hàng rào tương tự như tấm màn mà các nhà biểu diễn hình nộm dùng để phân cách họ và khán giả và họ sẽ trình bày pháp thuật trên đó.
- Tôi thấy điều đó, người bạn nói.
- Bây giờ bạn hãy hình dung: dọc theo bức tường rào nhỏ này, có những người mang vác đủ thứ dụng cụ thân hình cao hơn bức tường và nhiều bóng người, vật, bằng đá, bằng cây đủ kiểu, dĩ nhiên trong số người khuân vác đang đi qua, có người trò chuyện, có người không nói lời nào.
- Một bức tranh kỳ dị và đám tù nhân dị thường, người bạn nói.
- Các người đó giống chúng ta, tôi đáp lời. Trước hết bạn có tưởng rằng trong hoàn cảnh nầy, chính họ và người gần họ không thấy gì khác hơn là những bóng được ánh lửa in vào phía động đối diện với họ không ?
- Có thế nào khác không, người bạn nói, nếu họ bị bắt buộc cả đời phải ngồi yên không được day đầu.
- Còn những vật đi ngang qua đó, họ cũng không nghĩ tưởng như thế sao ?
- Không chối cãi được.
- Như thế, nếu họ có thể trò chuyện với nhau, bạn không nghĩ rằng họ sẽ tin tưởng mình đặt tên cho sự vật thiệt thọ, khi họ đặt tên cho những bóng họ thấy sao ?
- Đó là tất nhiên.
- Và nếu có một tiếng dội vang tới tận đáy ngục, mỗi lần một người du khách nói chuyện, bạn có tin rằng họ không nhận đó là tiếng nói của chiếc bóng đang đi qua à ?
- Họ nhận chớ, trời ơi ! người bạn nói.
- Không thể nghi ngờ rằng: tôi nói tiếp, đối với cặp mắt của những người nầy, thực tại không có gì khác hơn là cái bóng của những vật được tác tạo.
- Lẽ tất nhiên, người bạn đáp.
- Bây giờ bạn hãy quan sát những phản ứng của họ, nếu có ai mở xiềng cho họ và chữa họ khỏi bệnh ngu dốt và nếu mọi sự diễn biến thông thường như sau. Mở xiềng cho một tù nhân. Kéo xổm họ dậy, quay cổ lại, bắt họ bước đi, ngước mắt nhìn ánh sáng, những cử động ấy sẽ làm cho anh chàng đau khổ, cặp mắt anh bị lòa không thể nhìn sự vật mà khi nảy họ đã thấy bóng. Tôi xin bạn cho biết câu trả lời của chàng, nếu ai nói với chàng rằng khi nảy anh chỉ thấy những cái bâng quơ, chớ bây giờ, đứng gần thực tại và quay về sự vật thực thọ hơn, chàng mới thấy rõ ràng hơn; sau hết nếu ai chỉ cho chàng thấy nỗi một sự vật đang đi ngang qua trước mắt chàng và nếu ai tra hỏi và bắt ép chàng phải nói ra là cái gì ? Bạn không tưởng rằng chàng sẽ thắc mắc và những vật chàng thấy khi nảy xuất hiện dưới bộ mặt thật hơn là những sự vật người ta chỉ cho chàng thấy bây giờ sao ?
- Dưới bộ mặt thật hơn nhiều, người bạn đáp.
- Và nếu mình ép chàng nhìn ánh sáng, bạn không tưởng rằng chàng sẽ bị xốn mắt và chàng sẽ tìm lối thoát và quay về những sự vật chàng có thể nhìn được và chàng sẽ tưởng rằng những sự vật nầy rõ rệt hơn những vật mình chỉ cho chàng xem sao ?
- Tôi tưởng như thế, người bạn đáp.
- Và nếu, tôi tiếp lời, ai ép lôi chàng ra khỏi tù, ép chàng leo dốc gồ ghề và đợi khi chàng ta ngoài ánh sáng mặt trời mới thả chàng ra, bạn không tưởng rằng chàng sẽ đau khổ và công phẩm vì bị lôi kéo như thế, và một khi ra ngoài ánh sáng, chàng sẽ bị lòa mắt và không thể thấy những vật nào mà chúng ta gọi là thiệt thọ sao.
- Chàng không thể thấy, người bạn nói, ít nữa là ban đầu.
- Thật ra chàng phải tập cho quen, nếu chàng muốn thấy thượng giới. Trước tiên chàng nhận thấy dễ dàng những chiếc bóng, rồi đến những hình ảnh của người và của sự vật khác in hình dưới nước, rồi đến chính sự vật. Rồi chàng liếc mắt nhìn lên ánh trăng sao, ban đêm chàng sẽ ngắm sao và bầu trời dễ hơn là khi ban ngày chàng nhìn mặt trời và ánh sáng của mặt trời.
- Chắc chắn như thế.
- Sau hết, tôi tưởng chàng có thể nhìn và ngắm mặt trời đứng chỗ của nó chớ không phải hình nó in dưới nước hay phản chiếu nơi nào khác.
- Lẽ tất nhiên, người bạn đáp.
- Sau giai đoạn nầy, chàng sẽ đi đến kết luận về mặt trời: chính mặt trời là nguyên nhân của thời tiết năm tháng, quản trị mọi sự trong thế giới hữu hình và chính mặt trời, xét theo một vài phương diện, là nguyên nhân của mọi sự vật mà chàng và các bạn chàng nhận thấy trong hang đá.
- Dĩ nhiên là chàng sẽ kết luận như thế, theo những kinh nghiệm vừa thu thập.
- Nếu chàng nghĩ tới chỗ chàng ở trước, kiến thức đã có ở đó, và những người bạn tù của chàng, bạn không tưởng rằng chàng sẽ thỏa mãn về những sự biến đổi và sẽ thương hại họ sao ?
- Chắc chắn như thế.
- Còn những danh dự và uy thế họ truy tặng cho nhau và những giải thưởng dành cho ai có cặp mắt tinh xảo phân biệt được những sự vật đi ngang qua, nhớ lại một cách tinh xác hơn những sự vật nào thường đi ngang qua trước hay sau hết, hay đi một lượt, và cho ai tiên đoán vật nào sẽ đi ngang qua, bạn có tưởng rằng chàng ta sẽ tham vọng và ganh tỵ với tù nhân nào chiếm được danh dự và uy thế không ? Chàng không nghĩ như Achille trong tác phẩm của Homère và chọn ngàn lần làm tên kéo cày cho một nông dân thường và chịu đựng mọi tai ách hơn là trở về ảo mộng xưa và sống như anh ta đã sống ?
- Tôi đồng ý với bạn: chàng tha chịu mọi sự khốn khổ hơn là lại sống kiếp sống đó.
- Bạn hãy hình dung sự nầy, tôi tiếp lời, nếu chàng ta trở xuống chiếm lại địa vị cửa, từ ngoài mặt trời đi vào, chàng không bị cảm thấy tối tăm dày vò mắt chàng sao ?
- Lẽ dĩ nhiên, bạn tôi nói.
- Và nếu chàng lại phải phê bình về những chiếc bóng nầy và thị giác chàng còn hỗn độn và trước khi mắt chàng cần phải đợi một thời gian khá dài mới quen lại với cảnh u tối, chàng không mắc cười; và họ sẽ không nói về chàng rằng vì chàng lên trên kia mới bị hư mắt và như thế không còn cần mất công tìm thế đi lên, và nếu có ai thử mở xiềng và dắt họ lên và họ có thể thộp cổ và giết người ấy, họ sẽ không giết sao ?
- Chắc chắn họ sẽ giết, người bạn đáp.
- Bây giờ, tôi nói tiếp, bạn thân Glaucon ơi, ta phải áp dụng hình ảnh nầy cho những điều ta nói trên: phải xem thế giới hữu hình như một lao xá, và ánh lửa soi ngục như ánh mặt trời, thẳng tiến đến thượng giới và chiêm ngưỡng những kỳ quan, đó là công việc của linh hồn tiến lên thế giới khả niệm có ý tưởng THIỆN và người ta chỉ thoáng thấy; nhưng vừa nhận thấy, người ta không thể không kết luận rằng chính nó là nguyên nhân phổ quát của những gì là thiện mỹ: trong thế giới hữu hình, chính ý tưởng Thiện đã tác tạo và phân phối ánh sáng, còn trong thế giới khả niệm, chính nó cấp phát chân lý và trí năng, con người phải nhận thức nó để hành động minh mẫn và sáng suốt trong đời tư cũng như đời công.
- Tôi đồng ý với anh, người bạn nói, như tôi có thể theo dõi tư tưởng của anh.
- Vậy bạn đồng ý với tôi về điểm nầy nữa: không lạ gì những người đã được nâng lên cao không còn muốn điều khiển công việc nhân phàm và hồn linh của họ luôn luôn mơ mộng yên cư trên nơi cao nầy. Việc đó là đương nhiên, nếu còn phải nối liền điều nầy với dụ ngôn của ta.
- Việc thật đương nhiên, người bạn nói.
- Nhưng bạn nghĩ có ngạc nhiên vì, một khi từ giai đoạn chiêm ngưỡng cao siêu trở về với thực tại khốn đốn của đời sống nhân phàm, con người có vẻ vụng về và lố bịch hoàn toàn, khi thị giác còn hỗn độn chưa chịu được với cảnh u tối, con người nỗ lực tranh luận nơi pháp đình hay nơi nào khác về hình bóng của sự công chính, hay về hình ảnh tung chiếu của những bóng nầy và bác bỏ những lời giải thích của những người chưa bao giờ thấy sự công chính tự tại chăng ?
- Không ngạc nhiên chút nào.
- Nhưng nếu ai biết điều, họ sẽ nhớ lại rằng mắt con người bị lòa bằng hai cách và nguyên do đối lập: sự di chuyển từ sáng vào tối và từ tối ra sáng. Như thế, nếu nghĩ suy rằng hai trường hợp nầy cũng áp dụng cho linh hồn, người ta sẽ thấy một tâm hồn xao xuyến và không thể phân biệt được một sự vật, chớ không nhạo cười vô lý, người ta sẽ cứu xét coi hồn linh đó vừa bỏ đời sống xán lạn bị cảnh u tối làm rối loạn vì chưa quen, hay hồn linh đó từ giai đoạn ngu dốt bước qua ánh sáng, phải choáng váng vì vầng sáng quá rực rỡ.
Trong trường hợp thứ nhất, người ta phải khen ngợi cử chỉ luống cuống và cách xử dụng đời sống của họ; trong trường hợp thứ hai, người ta phải thương hại họ, nếu có cười họ, thì sự chế nhạo ít lố bịch hơn là đối với một hồn linh vừa bước ra khỏi ánh sáng.
- Đó là một sự phân biệt hợp lý lắm.
***
THUYẾT "HỒI TƯỞNG"
Ménon : Tại sao ông nói rằng chúng ta không học và cái mà chúng ta gọi là kiến thức chỉ là kỷ niệm ? Nhờ ông chứng minh điều ấy cho tôi.
Socrate : Nè Ménon, tôi đã nói bạn tinh nghịch lắm. Tôi quả quyết rằng không ai dạy ai cả và mỗi người chỉ nhớ lại mà thôi. Bây giờ bạn lại xin tôi một bài học. Bạn quyết làm cho tôi tự mâu thuẫn với tôi.
Ménon : Thưa Socrate, đâu có thế, trời ơi! tôi đâu có ý định như thế, nhưng tại tôi quen miệng vậy thôi. Nhưng, nếu ông có cách nào cho tôi thấy rõ điều ấy, xin ông chỉ cho.
Socrate : Chuyện đâu có dễ, nhưng vì tình bạn, tôi cố gắng. Bạn cho gọi một gia nhân bạn, đứa nào tùy ý, để nhờ nó, tôi chỉ cho bạn thấy điều bạn muốn.
Ménon : Hay lắm (nói với một tên nô lệ) Lại gần đây.
Socrate : Nó là người Hy lạp. Biết tiếng Hy lạp ?
Ménon : Dĩ nhiên, nó sinh trưởng trong gia đình tôi.
Socrate : Nè, ông bạn chú ý xem coi nó có vẻ nhớ lại, hay nó học với tôi.
Ménon : Tôi sẽ chú ý.
Socrate : Ê chú, chú biết khoảng nầy vuông chớ!
Nô lệ : Dạ phải.
Socrate : Trong một khoảng vuông, bốn đường nầy bằng nhau phải không?
Nô lệ : Phải.
Socrate : Và mấy đường nầy, xuyên giữa khoảng đó cũng bằng nhau chớ ?
Nô lệ : Dạ phải.
Socrate : Một khoảng vuông kiểu nầy có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
Nô lệ : Chắc chắn như thế.
Socrate Nếu cạnh nầy dài hai bước, cạnh kia cũng dài hai bước, kích thước tất cả là bao nhiêu ? Coi đây : nếu cạnh nầy có hai bước, còn cạnh kia có một bước khoảng đó, rộng một lần hai bước có đúng không ?
Nô lệ : Đúng.
Socrate : Còn nếu cạnh kia dài hai bước, tất cả là hai lần hai bước chớ?
Nô lệ : Đúng như vậy.
Socrate : Khoảng đó rộng hai lần hai bước ?
Nô lệ : Phải.
Socrate : Hai lần hai bước là mấy ? Tính rồi nói nghe !
Nô lệ : Bốn.
Socrate : Có thể có một khoảng giống như khoảng đó nhưng rộng bằng hai lần và có các đường bằng nhau ?
Nô lệ : Có thể có được.
Socrate : Khoảng ấy có mấy bước ?
Nô lệ : Tám bước.
Socrate: Vậy trong khoảng mới nầy, bề dài của mỗi đường là mấy bước ? Khoảng nầy có đường dài hai bước. Khoảng lớn gấp đôi có đường dài mấy bước ?
Nô lệ : Dĩ nhiên là gấp đôi.
Socrate : Bạn Ménon, bạn thấy tôi đâu có dạy điều gì. Tôi chỉ đặt câu hỏi cho nó thôi.
***
NHỮNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CủA PLATON
Hồi tôi còn là thanh niên, tôi cũng cảm thấy những điều mà giới thanh nhiên cảm thấy. Tôi đã dự định chờ ngày mà tôi có thể xử dụng sức tôi, để tham gia chính trị. Tình trạng xứ sở lúc đó như sau : chánh thể hiện tại đã bị người ta âm mưu lật đổ, và một cuộc cách mạng bùng nổ. Đứng đầu chính thể mới có 51 công dân; 11 người nắm quyền điều khiển đô thành, 10 người cai thành Pirê (hai hạng người nầy chia nhau công việc hành chánh trong các thành thị); nhưng còn quyền tối cao nằm trong tay 30 người khác. Có nhiều người bà con quen biết với tôi và đã mời tôi đảm nhiệm những công việc phù hợp với khả năng tôi. Tôi đã vỡ mộng : điều ấy không có gì đáng ngạc nhiên, vì lúc ấy tôi mới là thanh niên. Tôi nghĩ rằng họ sẽ lo thiết lập công bình xã hội cho đô thành. Vì thế, tôi hằng quan tâm theo dõi hoạt động của họ. Nhưng, tôi nhận thấy họ lại làm cho quần chúng luyến tiếc chế độ cũ một phần nào. Kể ra thì có nhiều chuyện.
Tôi xin kể chuyện có liên quan tới người bạn quí mến là Socrate. Tôi dám công bố rằng : Socrate là một người liêm sĩ nhất thời ấy. Họ muốn người tiếp tay dẫn một người dân đem đi giết, để bắt buộc dù muốn dù không Socrate cũng phải bị dính líu với đường lối chính trị của họ. Nhưng Socrate không chịu và thà liều mình mắc phải những hiểm họa trầm trọng còn hơn là để mình liên can vào những hành động tội lỗi. Vì thấy tình cảnh ấy, thấy những tình cảnh tương tợ hay kém phần quan trọng hơn, tôi đâm bực tức và rút ra khỏi chính trường. Ít lâu sau, 30 người đó bị mất chức và chế độ của họ cũng sụp đổ theo họ. Một lần nữa, nhưng không mấy nồng nhiệt lắm, tôi được mời ta tham chính.
Vì là tình thế hỗn độn, cho nên có nhiều chuyên uất ức. Những cuộc cách mạnh thường gây cơ hội cho người ta nhiều hành động trả thù cá nhân. Nhưng những người trở lại cầm quyền lúc nầy có thái độ khá ôn hòa. Nhưng tôi không biết thế nào mà nhiều người có thế lực lại lôi cổ Socrate ra tòa và kết án cho ông một trọng tội mà ông không đáng chút nào : người thì tố cáo người thì kết cho ông tội vô đạo, và họ kết án tử cho chính người lúc trước không muốn tiếp tay bắt một người bạn của họ bị phát lưu, trong lúc họ cũng bị phát lưu và sống cơ cực. Nhận thấy nhân tình thế thái và đường lối chính trị của họ; càng già, càng suy nghĩ về luật lệ và phong tục, tôi càng nghĩ rằng chu toàn việc Nhà Nước thật là một công việc khó.
Một đàng, tôi nghĩ công việc ấy không thể thực hiện được, vì tôi không có bạn bè, không có người cộng tác có thể tín nhiệm được. Không dễ gì kiếm người được, vì đô thành chúng tôi không còn theo những lề lối phong tục của ông cha chúng ta nữa. Còn việc tạo ra những lề lối phong tục mới, không phải là chuyện dễ. Hơn nữa, tình trạng luật lệ và luân lý quá suy sụp; cho nên, dầu tôi hăng hái muốn hoạt động cho công ích, nhưng khi thấy tình thế ấy và thấy mọi sự đều hư hỏng nên tôi choáng váng tâm thần. Nhưng tôi vẫn chờ xem coi có dấu gì cho biết tình thế khả quan hơn, nhất là về mặt chính trị, tôi cứ chờ đợi để hành động đúng lúc. Sau cùng, tôi hiểu rằng các quốc gia hiện thời không được sự lãnh đạo đúng đắn, bởi vì căn cứ trên nền luật pháp vô phương cứu chữa, nếu không có sự chuẩn bị cứng rắn và thời thế thuận tiện.
Vì thế, tôi cần phải đề cao nền triết lý chân chính và tuyên bố rằng: chỉ có triết lý mới có thể giúp người ta nhận thấy đâu là công lý trong sinh hoạt công cộng cũng như trong đời tư.