Bài 24: Aristote (P2) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

III. TƯ TƯỞNG

A. NHỮNG ĐƯỜNG NÉT CHÍNH

1. Tiến trình tư tưởng của Aristote

Để thiết lập một lý thuyết nào, Aristote luôn tìm hiểu những người đi trước, nên ông thực sự là một nhà lịch sử triết học đầu tiên. Những kiến thức của người đi trước được Aristote chuyển thành công thức của riêng mình, am hợp với hệ thống của mình. Nhưng ông biết rằng cần phải có sự cộng tác của nhiều thế kỷ thì triết lý mới có thể đạt tới sự hoàn hảo; cho nên lý thuyết nền tảng của Aristote thể hiện như là một kết luận của tất cả lịch sử triết học cho đến bấy giờ [3].

Trong thời Thượng Cổ, các học giả thường lưu ý đến những quan điểm tương đồng giữa Aristote và Platon. Trái lại, các học giả Trung Cổ lại quá chú trọng tới những điểm khác biệt giữa hai triết gia. Bắt đầu từ thế kỷ thứ XIX, nhờ áp dụng phương pháp sử học, người ta mới nhận thấy trong tư tưởng của Aristote có một tiến trình : lúc còn trẻ, Aristote trung thành với tư tưởng của thầy mình. Nhưng với thời gian, kinh nghiệm và suy nghĩ đã giúp Aristote có một tư tưởng đặc sắc và tự lập. Có học giả chỉ cần căn cứ trên vấn đề linh hồn bất tử, để theo dõi tiến trình tư tưởng của Aristote [4].

2. Khuynh hướng triết học Aristote

Mối quan tâm chính của Aristote, cũng là nét chung của những triết gia đầu tiên, là tìm hiểu về hữu thể. Tất cả mọi triết gia đó đều cố gắng khám phá ra, bên dưới những thay đổi và tạp đa, một yếu tố vũng bền, duy nhất, do lý trí đòi hỏi, đó là "cái hiện hữu" (ce qui est) hoặc "lý do hiện hữu được giải thích"; nghĩa là, một cách nào đó, họ bàn tới sự vật dưới khía cạnh hữu thể.

Lý thuyết của Aristote cho thấy khuynh hương của ông gần với kinh nghiệm thực tế hơn. Ông không muốn đặt chìa khóa của vấn đề vào một thế giới ý tưởng trên cao, nhưng tìm thấy cách thức giải thích trong chính sự vật. Ông thấy trong vũ trụ chỉ có những sự vật riêng biệt mà thôi; và ông tin có thể tìm thấy ở đó những yếu tố để giải thích sự biến chuyển.

Khuynh hướng đó, so với Platon, mang tính cách tôn trọng thế giới trần gian hơn. Vật chất là thành phần cấu tạo của sự vật trong vũ trụ, chứ không phải là một trở lực cho khát vọng của linh hồn, hoặc là biểu trưng cho sự sa đọa, như là kết quả của tình trạng sa đọa nơi con người. Vật chất chính là môi trường hoạt động của con người chứ không phải là kiếp đọa đày của chúng sinh. Mọi sinh hoạt của con người, sinh hoạt thể chất, cũng như sinh hoạt tinh thần, và trí tuệ và cảm gíác đều diễn tiến trong vũ trụ này. Hoài bão về tiền kiếp con người là một hoài bão vô căn cứ, không thiết thực. Con người cần phải học để hiểu biết, chớ không phải để nhớ lại những điều mình đã biết trong kiếp trước. Do đó, thế giới chính là kho tàng phong phú giúp ta thu thập kiến thức, chứ không phải là một chướng ngại.

3. Phê Bình Thuyết "ý tưởng" của Platon

Trong Eudème và Protreptique, người ta thấy Aristote vẫn chủ trương thuyết "ý tưởng" như Thầy mình. Hồn là một ý tưởng (eidos) biệt lập, hay có thể đứng riêng được. Có lúc xem như Aristote còn đi xa hơn Platon nữa. Platon cho rằng sự chiêm ngưỡng thế giới ý tưởng là điều kiện cần thiết để cho con người dấn thân vào thế cuộc và hoạt động trong lãnh vực chính trị cách hữu hiệu; Aristote lại quả quyết sự chiêm ngưỡng là mục đích duy nhất, là lẽ sống còn của đời sống con người ở trần gian.

Nhưng rồi Aristote không thỏa mãn trong lập trường ấy. Ông nhận thấy việc tạo ra một thế giới khác, thế giới ý tưởng, có vẻ dư thừa; mặt khác, nó còn làm gia tăng khó khăn trong việc tìm hiểu hiện giới cụ thể.

Trong tập "Khái luận về ý tưởng", Aristote đã nêu ra những thắc mắc khiến ông không thể chấp nhận thuyết của Platon nữa. Ông đưa ra những lý do như sau :

* Trước tiên, kinh nghiệm không cho phép ta chấp nhận có một thứ ý tưởng tự tập, hiện hữu riêng biệt ở một thế giới khác với hiện giới nầy. Trong thực tế, chúng ta chỉ thấy toàn là những cá nhân hoặc những sự vật riêng biệt mà thôi. Không thấy có những mẫu người hoặc mẫu vật tổng quát.

* Platon đã nghĩ ra thuyết "ý tưởng", để giải thích trạng thái đơn nhất và phức tạp của sự vật trong vũ trụ, đó là một điều không cần thiết, và dư thừa. Một nhà điêu khắc có một ý tưởng về pho tượng trước khi tạc thành nó. Nhưng kiểu mẫu đó chỉ là hình ảnh nội tại trong đầu của ông, không nhất thiết phải là một thực tại hiện hữu thực sự.

* Khi một ý tưởng kiểu mẫu làm nền tảng chung cho các sự vật cùng loại, kiểu mẫu đó trở thành bản chất của sự vật; và như thế, không còn có cá thể nữa, mà chỉ có một hữu thể duy nhất.

* Học thuyết ý tưởng làm mất đi sự duy nhất trong một cá vật. Khi một cá vật (chẳng hạn con người) được tham dự vào nhiều loại ý tưởng (sinh vật, sinh vật có lý trí; sinh vật chính trị...) thì mỗi cá vật trở thành một tổng hợp nhiều ý tưởng chứ không phải là một hữu thể duy nhất.

* Học thuyết của Platon sẽ nhân bội vô cùng các ý tưởng. Nếu Socrate và Callias giống nhau vì cùng tham dự vào ý tưởng "người tự tại"; thì giữa Socrate và ý tưởng "người tự tại" cũng phải cùng tham dự vào một ý tưởng "đệ tam nhân". Như thế, tiến trình sẽ lùi lại mãi mà không bao giờ có thể ngừng được. Ông ví học thuyết của Platon giống như Người chủ trương thuyết ấy giống như "một người muốn đếm các vật dụng trong nhà, nhưng thấy khó bề kê khai hết, nên cứ tìm thêm các vật dụng khác, để có cơ hội đếm nữa".

Tuy nhiên, ta phải nói rằng Aristote vẫn không thoát ra khỏi ảnh hưởng của Platon; ông vẫn muốn giải quyết, cùng một vấn đề mà Platon đã phải nghĩ ra học thuyết ý tưởng để giải quyết. Cho dù, trong thực tế, Aristote cho rằng chỉ có những cá thể là thực sự hiện hữu, nhưng ông vẫn phải kết luận rằng hiểu biết đích thực phải là hiểu biết cái tổng quát, tương tự như Platon cho rằng hiểu biết là hiểu biết các ý tưởng.

Nói thế không phải là phủ nhận tính chất độc đáo của Aristote. Aristote khẳng định hữu thể bản thể là hữu thể cá biệt; nhưng ta có thể tìm thấy các kiểu mẫu cho các vật cùng loại trong "mô thể" (la forme); mô thể không nằm ở một thế giới riêng biệt nào, nhưng nội tại nơi cá thể.

4. Phân loại triết học

Aristote phân chia triết học thành ba loại như sau :

I/ Triết học lý thuyết

Là những môn học chỉ nhằm để biết thuần túy, gồm có : vật lý học, toán học, và triết học đệ nhất.

II/ Triết học thực hành

Là những môn học nhằm tới tri thức hướng dẫn hoạt động của con người, gồm có : đạo đức và chính trị.

III/ Triết học sáng tạo

Gồm những môn tu-từ-học và thi ca.

Ông không kể Luận lý học như một môn độc lập; nhưng nó là một phương cách để suy tư triết lý, được áp dụng cho tất cả mọi loại triết học.

Chú thích

[3] Xc Thonnart Sđd , p:86-87

[4] Nuyens, L' Évolution de la psychologie d'Aristote.

< Xem lại phần 1

Xem tiếp phần 3 >