Bài 24: Aristote (P5) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Ông cho rằng mọi chuyển động đều phải có động cơ để chuyển động nó; động cơ đó, hoặc là nội tại, tức tự nó có thể chuyển động, hoặc ngoại tại, tức do một động cơ khác; nhưng trong trường hợp thứ hai này, ta cần phải đi ngược lên để tìm cho ra động cơ đã chuyển động nó. Tiến trình này không thể đi mãi, nên cuối cùng phải có một động cơ nguyên thủy, nó tác động nên những chuyển động nhưng lại không bị tác động do một động cơ nào khác. Aristote gọi đó là "Động Cơ Bất Động" (le moteur immobile); đó là Thượng Đế.
D. TRIẾT HỌC ĐỆ NHẤT
1. Chứng minh sự hiện hữu của thượng Đế
Ông cho rằng mọi chuyển động đều phải có động cơ để chuyển động nó; động cơ đó, hoặc là nội tại, tức tự nó có thể chuyển động, hoặc ngoại tại, tức do một động cơ khác; nhưng trong trường hợp thứ hai này, ta cần phải đi ngược lên để tìm cho ra động cơ đã chuyển động nó. Tiến trình này không thể đi mãi, nên cuối cùng phải có một động cơ nguyên thủy, nó tác động nên những chuyển động nhưng lại không bị tác động do một động cơ nào khác. Aristote gọi đó là "Động Cơ Bất Động" (le moteur immobile); đó là Thượng Đế.
2. Những phẩm tính của Thượng Đế
- Thượng Đế thì vĩnh cữu, không ai tạo dựng ra Ngài và nơi Ngài không có một sự biến đổi nào.
- Thượng Đế là hiện thể thuần túy (l' acte pure). Trong Thượng Đế, không có tiềm thể; do đó Ngài không biến đổi; bởi vì biến đổi là tính chất của sự bất toàn, là còn có tiềm thể. Thượng Đế Ngài hoàn hảo; còn thay đổi là tính chất của những sự vật bất toàn.
- Thượng Đế là tư tưởng thuần túy; bởi vì tư tưởng là điều hoàn hảo nhất cao trọng nhất; nên Thựơng Đế là hoàn hoàn hảo tuyệt đối, Ngài cũng phải là tư tưởng thuần túy. Ngài là tư tưởng không vương một chút khuyết điểm nào; Ngài là Tư Tưởng luôn hiển thể (la pensée en acte).
- Thượng Đế là không biết gì đến thế giới và những sự vật trong thế giới. Bởi vì, theo Aristote, biết một đối tượng là đồng hóa với đối tượng đó; như thế, nếu Thượng Đế tư tưởng về thế giới, Ngài sẽ bị đồng hóa một phần nào với thế giới; như thế, Ngài bị lệ thuộc, ít nhất trong tư tưởng, vào thế giới. do đó, thế giới không phải là đối tượng xứng đáng với Thựơng Đế. Thượng Đế chỉ biết chính mình. Nơi Ngài, chủ thể và đối tượng là một. Ông gọi Ngài là "Tư Tưởng của Tư Tưởng" (la Pensée de la Pensée).
Tuy nhiên, Thượng Đế không phải là không có ảnh hưởng gì tới thế giới. Ngài không phải là nguyên nhân tác thành nhưng là nguyên một mục đích, nghĩa là Thượng Đế, trong sự hoàn hảo của Ngài, thu hút vạn vật hướng về mình mà chính Ngài cũng không biết gì về việc đó. Thượng Đế chỉ là mẫu mực, là lý tưởng cho con người mà thôi.
Tư tưởng của ông về Thượng Đế bị dân thành Athènes tố cáo là vô thần. Ngày nay thì người ta thầy tư tưởng này quá duy lý. Hình ảnh Thượng Đế như thế không phải là một ngôi vị sống động, có mối liên hệ sống động với con người.
E. LUÂN LÝ
1. Nhân Đức
Aristote quan niệm nhân đức là một thói quen; tức là một thái độ vững bền chứ không phải chỉ là một hành động tốt lẻ loi đột xuất. Thái độ vững bền này có được là nhờ tập luyện.
Nhân đức là thói quen của ý chí; vì nhân đức phải là thái độ của tự do, tự nguyên chứ không thể do ép buộc. Chính nhờ sự nỗ lực của ý chí mà nhân đức trở thành điều cao quí của con người.
Nhân Đức là thái độ quân bình (équilibre) hay trung dung (le juste milieu). Trung dung là thái độ ở giữ thái quá (l' exès) và bất cập (le défaut) [In medio stat virtus]. Chẳng hạn can đảm là thái độ trung dung giữa liều lĩnh và nhát đảm; rộng rãi là thái độ trung dung giữa hoang phí và hà tiện. Cả hai thái cực thái quá và bất cập đều là nết xấu (les vices).
Trung dung ở đây không phải là một thái độ dễ dãi, máy móc; không phải là vừa vừa phai phải; nhưng là thái độ khôn ngoan, tùy theo trường hợp mà quyết định; đó là thái độ của lý trí sáng suốt; bởi vì có điều hợp cho người nam lại không hợp cho người nữ, có điều hợp cho ông chủ nhưng lại không hợp cho người nô lệ.
Aristote phân biệt hai thứ nhân đức :
- Nhân đức tinh thần : gồm óc phê phán, bình luận hợp lý hợp cảnh, tinh thần trật tự,
- Nhân đức luân lý, là những tập quán tốt, giúp con người giữ mực chiết trung giữa thái quá và bất cập.
Ông cũng bàn cụ thể tới một số nhân đức như :
* Khôn ngoan (la prudence): Khôn ngoan là nhân đức nổi bật nhất trong đời sống cá nhân, nó giúp con người áp dụng những nguyên tắc đạo đức vào trong các hoàn cảnh cá nhân, cũng như trong sinh hoạt xã hội.
Và hai nhân đức cần thiết nhất cho xã hội là : công bình (la justice) và tình bạn (l' amitié).
Về tình bạn, Ông bàn tới nhiều trong tập 8 và tập 9 của cuốn Éthique à Nicomaque. Ông cho đó là nhân đức tự nhiên, đẹp và đem lại niềm vui; ông nói : "Nul ne consentirait à vivre sans amis, dut-il posséder tous les autres biens". Trong tình bạn, cần phải có sự trao đổi hỗ tương một cách bình đẳng. Ông cho rằng cả đời người chỉ có một người bạn đích thực mà thôi.
Ông phân biệt ba loại tình bạn :
- Tình bạn giữa những người trẻ : dựa trên sự nô đùa, vui thú.
- Tình bạn giữa những người lớn tuổi : dựa trên lợi ích chung.
- Tình bạn giữa những triết nhân : dựa trên đạo đức và chân lý. Nhà hiền triết quí mến bạn chỉ vì lý do bạn là một người tốt lành, khôn ngoan và đạo đức.
2. Mục đích của đời sống : Hạnh Phúc
Kinh nghiệm thường nhật cho ta thấy rằng: ai ai cũng ước ao hạnh phúc và sống là đi tìm hạnh phúc. Ông cho rằng điều thiện tối cao chính là cái gì hoàn toàn, tự đầy đủ và là cùng đích của mọi ước muốn; chính hạnh phúc là điều đạt được những tiêu chuẩn đó, nên hạnh phúc là cứu cách tối hậu, là thiện tối cao (le Souverain Bien) của đời sống con người.
Tuy mọi người đều đi tìm hạnh phúc, nhưng người ta không đồng ý với nhau hanh phúc là gì. Nói cách khác, bản chất của hạnh phúc chưa được xác định chính xác rõ ràng. Không ít người tưởng hạnh phúc hệ tại tiền bạc, quyền bính, khoái lạc... Aristote cho rằng bản chất của hạnh phúc hệ tại "tác động phù hợp với nhiệm vụ (fonction) cao cả nhất của con người". Tương tự như các cơ năng trong con người, khi hoạt động đúng bản chất của nó, thì là một cơ năng lành mạnh; mắt để xem, tai để nghe...
Ông cho rằng, trong con người, có ba đời sống : đời sống thảo mộc, đời sống động vật và đời sống tinh thần. Nếu ta chỉ lấy làm hạnh phúc khi thỏa mãn các nhu cầu của đời sống động vật hay thảo một thì chưa xứng đáng với con người. Chỉ có đời sống tinh thần mới là nét đặc trưng riêng biệt của con người. Khi hành động bằng cách suy tư theo lý trí, con người thực hiện hoạt động cao cả nhất của con người, con người sống đúng với bản chất người của mình. Do đó, hạnh phúc đích thực hay cứu cánh tối hậu của con người là sự chiêm ngưỡng; điều đó làm cho con người nên giống và tiến đến gần hơn với Thượng Đế, Đấng là "Tư Tưởng của tư tưởng".
Người ta thấy rằng Đạo đức học của Aristote, tuy rất cao cả và thanh thoát, nhưng lại là một thứ đạo đức học trưởng giả; và như thế, sự thành đạt của vận mạng đời người lại chỉ dành cho một số nhỏ những người khôn ngoan, những người có những điều kiện dễ dãi của cuộc sống.