Bài 24: Aristote (P4) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Để hiểu được khoa vật lý học của Aristote, chúng ta cần nhớ lại khái niệm thiên nhiên tính (phusis) như đã nói trên. Thiên nhiên tính là tính chất tự nôi của các sự vật đã mang sẵn trong mình một nguyên lý của sự biến thái. Thiên nhiên tính chính là nguồn mạch của mọi biến dịch của các sự vật.

C. VẬT LÝ HỌC

Để hiểu được khoa vật lý học của Aristote, chúng ta cần nhớ lại khái niệm thiên nhiên tính (phusis) như đã nói trên. Thiên nhiên tính là tính chất tự nôi của các sự vật đã mang sẵn trong mình một nguyên lý của sự biến thái. Thiên nhiên tính chính là nguồn mạch của mọi biến dịch của các sự vật.

1. Bốn nguyên nhân

Không thỏa mãn với việc mô tả hiện trạng sự vật theo các phạm trù, Aristote cho rằng, muốn thực sự hiểu biết sâu xa về sự vật, còn cần phải biết giái thích sự vật từ những nguyên nhân của chúng. Có 4 loại nguyên nhân :

a/ Nguyên nhân chất thể (la cause matérielle) : là chất liệu cấu thành nên sự vật; thí dụ chất đồng trong một pho tượng. Chất thể có tính cách thụ động; nhưng có có khả năng tiếp nhận nhiều mô thể khác nhau; xét về phương diện này, chất thể là tiềm thể (une puissance). Chất thể chưa phải là một hữu thể, không thể đứng tự lập.

b/ Nguyên nhân mô thể (la cause formelle) là tất cả những đặc tích tích cực của một sự vật, nó làm cho sự vật là nó (yếu tính), nó là sự hoàn hảo và tạo nên sự thống nhất của sự vật. Đối với chất thể vốn chỉ là tiềm thể, thì mô thể (la forme) là hiện thể (un acte).

c/ Nguyên nhân tác thành (la cause efficiente) là những tác động góp phần tạo nên một hậu quả; nó làm nên chuyển động vào làm cho mô thể hiện diện nơi chất thể.

d/ Nguyên nhân cứu cánh (la cause finale) là mục đích mà mỗi sự vật hướng tới. Nguyên nhân mục đích là điểm đạt tới sau cùng của một tiến trình, nhưng lại có trước ngay từ lúc khởi đầu.

Trong bốn nguyên nhân này, hai nguyên nhân quan trọng hơn là nguyên nhân mô thể và chất thể. Nguyên nhân tác thành chính là thực hiện một mô thể cho chất thể; nguyên nhân mục đích cũng chỉ là nhằm phát triển hay bảo tồn các mô thể trong chất thể. Tóm lại, yếu tính của một hữu thể chính là chất thể cộng với mô thể; hai yếu tố đó luôn gắn liền chặt chẽ với nhau, không thể nào tách biệt ra được. Tuy nhiên, cuối cùng, nguyên nhân mô thể là quan trọng nhất, vì nó mới là trọng tâm nối kết, thực hiện hữu thể cho tất cả các nguyên nhân khác; chính nguyên chất chất thể cũng chỉ là khả năng đón nhận mô thể.

2. Bản chất của biến dịch trong thiên nhiên

Biến dịch không phải là sự thay đổi vật này bằng vật khác, nhưng là sự chuyển hóa của hai trạng thái khác nhau trong một sự vật. Biến dịch là đi từ trạng thái khởi đầu đến trạng thái tận cùng; là khi một hữu thể đạt được những khả tính của mình, tiến đến tình trạng viên mãn, phát triển đầy đủ theo bản tính của mình.

Như thế, trong biến dịch, có ba yếu tố căn bản : - một nền tảng chung bền vững qua mọi biến dịch; - một sự khiếm diện; - một mô thức. Nghĩa là một nền tảng, trên đó có hai yếu tố đối nghịch thay thế cho nhau; một là hữu thể, một là hư vô.

Như thế, Aristote trình bầy học thuyết tiềm thể và hiện thể như là bàn chất của mọi biến dịch. Biến dịch có thể xẩy ra được là nhờ sự khiếm khuyết một mô thức một cách nào đó; sự khiếm khuyết này đồng thời lại là một khả năng, nghĩa là một ngõ mở để đón nhận một mô thể. Biến dịch nghĩa là tiến từ tiềm thể đến hiện thể.

Ông phân biệt ba loại biến dịch chính :

a/ Biến dịch về số lượng : đó là sự gia tăng hay giảm sút về số lượng; như đứa bé lơn hơn, người bệnh gầy đi.

b/ Biến dịch về phẩm chất : là sự thay đổi tính chất nào đó của sự vật, chẳng hạn thay đổi mầu sắc.

c/ Biến dịch trong không gian : di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia, bước đi, chạy nhẩy...

Ngoài ra, ông còn nhắc tới một loại biến dịch khác, đó là sự sinh sản và hư nát. Sinh sản là đi từ hư vô sang hữu thể, và hư nát là đi từ hữu thể đến hư vô. Nhưng sau đó, Aristote cho rằng đây không phải là biến dịch và ở đây không có sự biến đổi mô thể bản thể.

3. Vũ trụ [5]

Với Aristote và tư tưởng Hy lạp nói chung, vũ trụ là hằng hữu. Ở đây, không có vấn đề sáng tạo đích thực.

Quan niệm khoa học về vũ trụ của Aristote rất phức tạp. Toàn thể vũ trụ là một vòng cầu khổng lồ. Các ngôi sao được gắn vào đó. Vòng cầu vũ trụ luân chuyển luôn. Trái đất chiếm trung tâm hình cầu đó. Mặt trời, mặt trăng và các hành tinh cũng được đặt vào hình cầu với tổng số không dưới 60 hình. Sự vận chuyển của các hình cầu đều do một số "động cơ bất động" điều khiển.

Trên mặt đất, có những vật có sự sống và những vật không có sự sống. Những vật sau đều do những nguyên tố vật chất: lửa, khí, nước, đất, ête kết thành. Những vật có sự sống do Hồn mà hoạt động và sinh trưởng. Toàn giới sinh vật đều nhờ Hồn mà sinh hoạt: Sinh hồn nơi thảo mộc; Giác hồn nơi thú vật; Linh hồn nơi con người. Con người chiếm một địa vị ưu tú nhất trong bậc thang hữu thể.

4. Con người

a/ Thân phận con người

Con người được cấu tạo nên nhờ chất thể là thân xác và mô thể là linh hồn. thân xác không phải là mồ chôn linh hồn và linh hồn không có một cuộc sống ở tiền kiếp nào cả. Linh hồn là nguyên lý của mọi sinh hoạt nơi con người, gồm cả cảm giác và tinh thần; và đây là nét trổi vượt của con người trên thú vật và thảo mộc.

Quan điểm này của Aristote có ưu điểm của Aristote là bảo đảm tính cách duy nhất của con người. Nhưng cũng chính vì đó, Aristote lại gặp phải khó khăn để nói đến sự trường tồn của linh hồn. Aristote cho rằng : nơi con người, trí năng thụ động sẽ tan đi với thân xác; nhưng trí năng chủ động, vì là ân huệ đặc biệt của Thượng Đế, nên sẽ tồn tại. Nhưng au khi con người chết tình trạng linh hồn sẽ ra sao ? Aristote lúng túng về quan niệm này. Ông cho rằng lý tưởng của bậc hiền triết là trở thành bất tử ngay ở đời nầy, bằng cách sống xứng đáng và đeo đuổi hạnh phúc chân chính.

b/ Vấn đề tri thức

Phủ nhận thuyết ý tưởng của Platon, Aristote chắc chắn cũng phải phủ nhận học thuyết "hồi tưởng" của của thầy. Đối với ông, tri thức được hình thành nhờ thế giới và trong đời sống hiện tại chứ không phải do kiếp trước nào. Aristote cho rằng mỗi người đều có lương tri, có khả năng đón nhận những "nguyên lý" căn bản. Nhờ những nguyên lý này, con người biết rút ra từ kinh nghiệm để biến thành những kiến thức. Kinh nghiệm ngoại giới nhờ cảm giác; và kinh nghiệm nội giới nhờ ý thức sẽ là những chất liệu để lý trí xử dụng.

Đến đây, chúng ta lại thấy Aristote trở lại với Platon. Ông chủ trương tri thức là tri thức những điều tổng quát. Chỉ có điều, đối với Aristote, cái tổng quát này không ở một thế giới nào khác mà do khả năng "trừu xuất" (abstractio) của lý trí con người.

Ông phân biệt lý trí con người gồm có trí năng thụ động (intellectus patiens) và trí năng tác động (intellectus agens). Nhờ trí năng tác động, con người có "trừu xuất", hay rút ra những ý niệm chung của những sự cá thể. Như thế, con người có thể đi lần từ sự vật khả giác tới những thực tại khả niệm, để rồi lần lượt khám phá ra nhiều bí ẩn của vũ trụ.

Chú thích

[5] Phần này trích lại trong giáo trình cha Thành, Sđd.

< Xem lại phần 3

Xem tiếp phần 5 >