Bài 24: Aristote (P3) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Luận lý học là một sáng tạo độc đáo của Aristote, một khoa học có "tuổi thọ" kỷ lục; đây là một phương pháp suy tư, gồm những qui luật "hình thức" căn bản để giúp suy tư đúng, bất kể được áp dụng vào một nội dung tư tưởng cụ thể nào.
B. LUẬN LÝ HỌC
Luận lý học là một sáng tạo độc đáo của Aristote, một khoa học có "tuổi thọ" kỷ lục; đây là một phương pháp suy tư, gồm những qui luật "hình thức" căn bản để giúp suy tư đúng, bất kể được áp dụng vào một nội dung tư tưởng cụ thể nào.
Socrate thì chú trọng tới các định nghĩa; Platon đã tiến hơn một bước khi đặt một chuỗi các từ họp thành một mệnh đề, tạo nên một sự duy nhất về ý nghĩa; nhưng chính Aristote mới là người biến những yếu tố của ngôn ngữ trở thành một khoa học thực sự. Với Aristote, ngôn ngữ là chiếc áo bao bọc tư tưởng, mà tư tưởng là tái hiện thực tại. Chân lý chính là sự am hợp giữa tư tưởng và hữu thể. Vì thế, khoa luận lý học hình thức, trong tinh thần của Aristote, cũng chính là một thứ hữu thể luận.
Luận lý học hình thức gồm có những phần :
- Các phạm trù (les catégories) ;
- Những mệnh đề (les propositions) ;
- Những Tam đoạn luận (les syllogismes) ;
- Phương pháp diễn dịch (la déduction) ;
- Phương pháp qui nạp (l' induction).
1. Các Phạm Trù
Aristote phân biệt 10 phạm trù, tức những "khuôn khổ" của một khía cạnh trong sự vật. Trong 10 phạm trù này, có phạm trù bản thể, là cái có thể đứng riêng biệt một mình và là trụ đỡ cho 9 phạm trù phụ thể còn lại. Một sự vật được xác định đầy đủ nhờ các khía cạnh trong 10 khuôn khổ đó.
| 1 | Bản Thể - substance | Người |
| 2 | Phẩm - qualité | người đen |
| 3 | Lượng - quantité | cao 2m |
| 4 | Tương quan - relation | con của ông Mít |
| 5 | Nơi chốn - lieu | ở ngoài đồng |
| 6 | Thời gian - temps | hôm qua |
| 7 | Vị trí - situation | đang ngồi |
| 8 | Cách thức - manière d' être | đi dép râu |
| 9 | Tác động - action | câu cá |
| 10 | Thụ động - passion | bị kiến cắn |
2. Mệnh đề
Muốn xác định được một phạm trù của sự vật, người ta phải dùng đến những phán đoán (les jugements), được thực hiện dưới hình thức đơn giản nhất là các mệnh đề (les propositions). Một mệnh đề được hình thành nhờ phán quyết một thuộc từ (un attribut) cho một chủ từ (un sujet). Có 5 loại thuộc từ :
| Con vật | chó | chó săn | biết rình | chân cao | màu vàng |
"Giống" bao hàm nhiều "loại". "Loại" được làm nên do "khác biệt" cộng với "giống". "Loại" và "khác biệt" cộng lại làm nên yếu tính, tức điều làm nên định nghĩa của một sự vật. hai thuộc từ sau cùng ("riêng biệt" và "phụ thể") thì không thuộc về yếu tính. Cái "riêng biệt" thì cũng cần thiết để xác định yếu tính của "chủ từ"; cái "phụ thể" thì có thể không thuộc về "chủ từ".
3. Tam Đoạn Luận
Các "mệnh đề" được nối kết với nhau bằng các "tam đoạn luận"; là một cách thức lý luận giúp ta có thể gán thêm những thuộc từ cho chủ từ. Chẳng hạn :
- Socrate là người
- Người thì hay chết
- Socrate hay chết
Aristote phận biệt nhiều thứ tam đoạn luận và nêu lên qui luật rõ ràng.
4. Diễn Dịch
Aristote cho rằng nếu ta biết cách suy diễn từ những mệnh đề đã biết, ta có thể đạt tới những mệnh đề xa hơn một cách chắc chắn. Trước tiên ta phải biết khởi đi từ những mệnh đề nguyên thủy chắc chắn. Ở đây, cần phải dựa vào kinh nghiệm; kinh nghiệm bên ngoài nhờ cảm giác, và kinh nghiệm bên trong nhờ ý thức; trí khôn sẽ kiểm nghiệm những chất liệu của kinh nghiệm nhờ đối chiếu, trừu tượng hóa... để hình thành nên được những khái niệm và những định lý.
5. Qui Nạp
Aristote cũng đặt nền móng cho phương pháp qui nạp. Tuy nhiên, nhưng điểu này được được hoàn bị.