Bài 24: Aristote (P1) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Aristote sinh năm 384 tcn, tại thành Stagire, một thành phố nhỏ trên bờ biển Hy Lạp, gần núi Athos, thuộc miền Thrace (ngày nay là Staghira, bán đảo Chalcidique), trong một gia đình cha truyền con nối làm nghề thầy thuốc. Thân phụ của Aristote là Nicomaque, một thầy thuốc riêng của vua Amyntas II xứ Maccédoine, vốn thuộc về một trong những gia đình Asclépiades, nơi đây, nghề y được lưu truyền từ cha đến con. Thân mẫu của Aristote là Phaestis, quê quán tại xứ Chalcis, miền Eubée.

24

ARISTOTE

(384 - 322)

Tham khảo

Vũ Văn Viên, Triết Học Arixtốt, Nxb Khoa Học Xã Hội 1998.

Nguyễn Anh Nghĩa Triết Học Aristote. Nxb Tân việt 1944.

I. TIỂU SỬ

Aristote sinh năm 384 tcn, tại thành Stagire, một thành phố nhỏ trên bờ biển Hy Lạp, gần núi Athos, thuộc miền Thrace (ngày nay là Staghira, bán đảo Chalcidique), trong một gia đình cha truyền con nối làm nghề thầy thuốc. Thân phụ của Aristote là Nicomaque, một thầy thuốc riêng của vua Amyntas II xứ Maccédoine, vốn thuộc về một trong những gia đình Asclépiades, nơi đây, nghề y được lưu truyền từ cha đến con. Thân mẫu của Aristote là Phaestis, quê quán tại xứ Chalcis, miền Eubée.

Dòng dõi của Aristote đã định hướng cho ông trong việc khảo cứu những lãnh vực thuộc khoa học thực nghiệm.

Năm 367, khi Aristote lên 17 tuổi, cha mẹ qua đời, để lại cho ông một gia tài to lớn. Aristote rời quê quán, xuống thành Athènes, xin thọ giáo với Platon [khi đó Platon mang mở trường tại Syracuse]. Tại trường Académie, Aristote là một thanh niên hiếu học và thông minh xuất chúng. Platon quí trọng Aristote và đặt tên cho ông là “kẻ hay học” hay “trí thông minh”. Ngược lại Aristote để lại một bài thơ ca tụng thầy Platon như một bậc thánh hiện mà “kẻ ác khôn được phép khen ngợi”. Những tác phẩm thời đầu của Aristote cho thấy ông còn theo lập trường của Platon. Tuy nhiên, Aristote là một con người cương trực, ông cũng nhiều lần tỏ ra bất đồng quan điểm với Thầy. Người ta thường gán cho Aristote câu nói : Amicus Plato, sed magis amica veritas.

Năm 367, có lẽ theo lời khuyên của thầy, Aristote rời trường Académie, Aristote cùng người bạn là Xénocrate đến Assos, thuộc Troade, Tiểu Á, đến cư ngụ tại triều đình của vua Hermias d’ Atarnée. Tại đây, Aristotecũng đảm nhận việng giảng dạy và bắt đầu khẳng định đường lối suy tư riêng của mình. Tuy vậym, ông cũng vẫn theo đuổi những khảo cứu về sinh vật và tham gia vào lãnh vực chính trị. Sau nầy, Aristote cưới cô Pythias, có lẽ là em hoặc cháu của Hermias. Hermias bị địch thủ đánh lừa và bị ám sát chết năm 345; Aristote vì có dính dáng đến chính trị, nên phải sang ngụ tại Mytilène [hải đảo Lesbos ?].

Khi Platon qua đời [367], thì Aristote đã rời trường, nên Platon trao lại trường Académie cho một môn đệ khác tên là Speusippe. Jacques Chevalier cho rằng những người nối tiếp sự nghiệp của Platon tại trường Académie lại không thực sự là môn đệ của Platon, vì đã biến học thuyết Platon trở thành những con số, dừng lại ở những bài toán hơn là triển khai được tinh thần đích thực của thầy. Môn đệ đích thực của Platon chính là Aristote.

Khoảng năm 343-342, khi Aristote đang ở Mytilène, Vua Philippe cho mời ông vào triều Macédoine, và giao cho ông trách nhiệm việc giáo huấn hoàng tử Alexandre mới lên 13 tuổi, sau này là Alexandre Đại Đế. Aristote làm việc tại đây bốn năm. Khi Alexandre lên ngôi vua, Aristote trở vể quê Stargire và sống ở đây gần ba năm.

Năm 338 tcn, quân đội Macédoine đánh bại quân Hy Lạp ở Xêrôn. Sau đó, khoảng năm 335-334, Aristote trở lại Athènes, mở trường dạy học tên là Le Lycée vì ở gần đền của Apollon lycien, có thể coi đây như là ngôi đường đối thủ của Académie.; gần đó cũng có một chỗ đi dạo và Aristote thường giảng dạy khi đi dạo, nên người ta cũng gọi nhóm của Aristote là trường phái Tiêu Dao [péripatéticiens hoặc Promeuneurs]. Tương truyền rằng ông dạy hai buổi, buổi sáng dành cho nhóm đồ đệ ưu tú, đề tài cao sâu khó hiểu (Theo thói quen thời đó, thầy trò có liên hệ mật thiết với nhau, nên Aristote thường ăn cơm chung với các đồ đệ vào những ngày nhất định); còn buổi chiều, ông tiếp nhận một số thính giả hỗn hợp, với những đề tài dễ hiểu hơn. Ông dạy học ở đây khoảng mười hai năm.

Với sự giúp đỡ của vua Philippe và Alexandre. Aristote đã lập được một phòng thí nghiệm nổi tiếng thời Thượng Cổ; tất cả những người đánh cá, nuôi chim, săn bắn và trồng cấy, theo lệnh vua, đều phải gởi tới cho Aristote những mẫu vật của họ. Alexandre Đại đế đem quân chinh phục khắp miền Tiểu Á, sang Ba Tư và đến tận Ấn Độ. Trong thời kỳ ấy, Alexandre vẫn luôn gởi về tặng Thầy những vật báu, những sản vật kỳ lạ của mỗi miền mà mình chiếm cứ. Nhưng sau thầy trò giận nhau, vì Alexandre đã giết một người cháu của Aristote.

Alexandre Đại Đế mất năm 323. Démosthène, lãnh đạo Đảng quốc gia Athènes chống Macedoine, tìm cách khủng bố những kẻ thân Macédoine, Aristote nằm trong trường hợp này. Ông bị buộc tội là vô thần và phản đạo. Aristote không muốn để dân Hy Lạp một lần nữa phạm vào “tội giết triết gia” như đã xử với Socrate, nên phải di cư sang hải đảo Eubée và lưu lại tại thành Chalcis, quê của mẹ ông. Một năm sau, năm 322, Aristote qua đời tại đó, thọ chưa đầy 63 tuổi.

Trong chúc thư, Aristote trao trường Le Lycée cho Théphrastre; trối cho Herpyllis, bà vợ thứ hai, tất cả của cải và nô lệ; nhưng ông muốn bà không được bán một người nô lệ nào, chờ họ đủ tuổi và giải phóng họ; ông xin trộn lẫn di hài mình với Pythias, bà vợ thứ nhất, và mai táng tại Stagire. Aristote có hai người con : con gái là Pythias, trùng tên mẹ (bà vợ thứ nhất); và đứa con trai, con của bà Herpyllis, mang tên ông nội Nicomaque.

Theo Diogène Laerce, Aristote có dáng người thấp bé, tiếng nói nhỏ và hơi cà lăm, mắt nhỏ, chân tay gầy gò. Tuy nhiên, tính tình ông bặt thiệp, rộng mở và ôn hòa. Ông để ý tới trang phục và cũng muốn môn đệ ăn mặc như thế. Aristote là người ham hiểu biết và muốn hiểu biết đến tận những nguyên nhân sâu xa nhất; ông có một kiến thức rộng rãi và sâu sắc.

Ănghen gọi Aristote là “cai đầu hoàn chỉnh nhất” trong số các triết gia Cổ đại Hy Hạp, là người nghiên cứu “những hình thức cơ bản nhất của tư duy biện chứng” [1] ; Marx thì đanh giá ông là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ” [2].

II. TÁC PHẨM

Tác phẩm của Aristote rất nhiều nhưng cũng bị thất lạc nhiều; người ta chỉ còn giữ lại phần lớn chỉ là những mảnh văn, trong đó ông ghi lại những nét đại cương để giảng dạy. Nhưng với bấy nhiêu, người ta cũng có thể thấy nơi ông một thiên tài về sự quảng bác. Các học giả phân loại những tác phẩm của Aristote thành ba loại.

Loại thứ nhất được viết cho những học giả cùng thời. Các sách vở cổ thời đều ca tụng loại sách này của Aristote. Nhưng ngày nay chúng ta không còn cuốn nào trong loại này. Theo các nhà văn cổ, loại sách này thuộc loại “luận ngữ”, từng thuật những cuộc bàn luận của Aristote với các học giả khác.

Loại thứ hai gồm những tài liệu của Aristote và cá mnôn đệ thu thập để nghiên cứu về khoa học, triết học, kinh tế, chính trị của xã hội Hy Lạp thời đó. Ngày nay chỉ còn lại một vài bộ trong loại này, đáng kể nhứt là bộ nghiên cứu “chính thể thành Athènes”, được tìm thấy năm 1891. Kèm theo bộ này có những bài khảo cứu cặn kẽ về một trăm năm mươi bẩy đô thị Hy Lạp khác.

Loại thứ ba ghi chép những bài dạy học của Aristote, phần lớn do môn đệ ghi chép và chú thích thêm. Loại này còn lại đầy đủ hơn,. Nhưng không chắc có phải do chính tay Aristote viết nên hay không. Vì vậy, những tác phẩm thu thập lại của Aristote không bộ nào giống bộ nào. Nói chung lời văn của ông thì khô khan, khó hiểu, luôn có những từ ngữ chuyên môn.

Các nhà phê bình văn học thường xếp văn phẩm của Aristote làm hai loại :

A. Loại văn phẩm dành cho quần chúng, soạn trong thời kỳ triết gia còn trẻ tuổi. Hầu hết những tác phẩm trong thời kỳ này là những đối thoại, được sáng tác khi ông còn ở nơi trường Académie. Những tác phẩm trong thời kỳ này dành cho quần chúng, gồm :

1/ Eudème, bàn về Linh hồn bất tử;

2/ Protreptique, gởi cho hoàng đế Chypre là Thémision, bàn về sự chiêm ngưỡng;

3/ Du Bien, bàn về thuyết "ý tưởng" của Platon.

B. Loại văn phẩm có tích cách khảo cứu và khoa học :

1/ Bộ Organon; gồm nhiều tác phẩm về luận lý học; trong đó có năm tập, một tập nghiên cứu những điều cơ bản của phạm trù [catégories]; một tập về những mệnh đề [propositions], một tập gồm bốn quyển về phân tích [analitiques]; một tập luận chứng [Topiques] gồm tám quyển và một tập “Chỉ trích phái ngụy biện”.

2/ Những tác phẩm về Siêu Hình Học; (Les Métaphysiques);

3/ Những tác phẩm về Vật Lý Học (la Physique);

4/ Những tác phẩm về Sinh Vật Học;

5/ Những tác phẩm về Tâm Lý Học;

6/ Những tác phẩm về Đạo Đức và Chính Trị gồm có :

a/ Ethique à Eudème (Đạo Đức Học tặng Eudème);

b/ Ethique à Nicomaque (Đạo Đức Học tặng Nicomaque);

c/ La Politique (Chính Trị);

d/ Constitution d' Athènes (Hiến Chương thành Athènes) ;

Khi Alexandre Đại Đế qua đời, và năm sau Aristote từ trần, sách vở của Aristote và của trường Le Lycée được cất giấu tại trường. Théophraste, người kế nghiệp Aristote gin giữ chúng đến năm 287. Sau khi Théophraste qua đời, số sách đó lại được trao về tay của một đồ đệ tên là Nêlê, quê thành Assos. Sau đó một số văn phẩm được bán cho thư viện thành Alexandria. Phần còn lại, người ta đem giấu dưới một cái hầm. Một người giầu có đã mua được những sách này. Năm 84-83, thành phố Athènes lọt vào tay dân Rôma, người ta chở các văn phẩm của ông về Roma. Andronicus phổ biến các văn phẩm của Aristote vào năm 70 dưới nhan đề : Corpus Aristotelicum.

Chú thích

[1] C.Mác, F. Engen, T.20

[2] Các Mác, Tư Bản, Tập 1, Phần I, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1988, trang 515.

Xem tiếp phần 2 >