Bài 23: Platon (P4)- Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Thần Tạo Hóa đã làm ra Linh hồn con người từ một phần của linh hồn vũ trụ. Trước kia, linh hồn ở trong thế giới ý tưởng. Sau đó được phân chia ra và nhập thể vào trong thân xác. Linh hồn con người có một qui chế đặc biệt : bất tử. Platon đã giải thích điểm nầy trong nhiều "đối thoại", nhất là trong Phédon.
V. NHÂN SINH QUAN
1. Linh hồn con người
Thần Tạo Hóa đã làm ra Linh hồn con người từ một phần của linh hồn vũ trụ. Trước kia, linh hồn ở trong thế giới ý tưởng. Sau đó được phân chia ra và nhập thể vào trong thân xác. Linh hồn con người có một qui chế đặc biệt : bất tử. Platon đã giải thích điểm nầy trong nhiều "đối thoại", nhất là trong Phédon.
Hồn bất tử là một thực tại không thể chối cải được hay ít nữa là một "niềm hy vọng tốt đẹp". Ông chứng minh bằng những lý do :
- Dựa theo thuyết "Hồi Tưởng", vì hồn có trước khi nhập vào thân xác, nên cũng tiếp tục tục tồn tại sau khi thân xác tan rã.
- Chết có nghĩa là tan rã; thế mà linh hồn con người lại có đặc tính đơn giản. Như thế, linh hồn không thể chết được.
- Có hai thế giới; mà sự biến đổi là hiện tượng của thế giới khả giác. Linh hồn con người thuộc về thế giới ý tưởng nên không thể tan rã hay biến đổi hư nát được.
Có lúc, Platon hình dung linh hồn con người sẽ được thưởng hay bị phạt một cách vĩnh cửu, tùy theo công phúc hay tội lỗi ở kiếp này. Có lúc, triết gia lại nghĩ rằng linh hồn sẽ được ban thưởng hay chịu phạt chỉ một thời gian mà thôi [9].
2. Thân phận nhân sinh
Vì một lý do nào đó, linh hồn bị lưu đầy trong thân xác; thân xác (Soma) là nhà mồ (Sema) của linh hồn. Con người là linh hồn bị giam hãm trong thân xác.
Linh hồn con người là nguyên lý của của mọi hành động và sinh hoạt của thân xác. Trong tình trạng "nhập thể" này linh hồn con người liên hệ tới cả hai thế giới, thế giới ý tưởng và thế giới cảm giác.
3. Tri thức
Vì bị gian trong thân xác, linh hồn quên đi hoặc chỉ còn là những kỷ niệm mơ mồ về những kiến thức trước đây của nó. Linh hồn cần phải tìm cách thức để có thể nhớ lại những "ý tưởng thuần túy" mà mình đã được chiêm ngưỡng trực tiếp trước đây. Tri thức là nhớ lại; đó là học thuyết "hồi tưởng" nổi tiếng của Platon. Platon chứng minh học thuyết này bằng một thí nghiệm vì việc một người nô lệ, nhờ nhưng câu hỏi thích hợp, có thể "nhớ lại" một định lý hình học mà ta tưởng như hắn không thể nào biết được.
Học thuyết này là một cách "lý thuyết hóa" phương pháp "sản ý" của Socrate. Đồng thời, ta cũng thấy quan niệm của Platon nhấn mạnh tới tính tự lập của linh hồn con người. Ít nhất ta có thể đồng ý với Platon rằng : chân lý không phải là điều được "nhập cảng" từ thế giới bên ngoài; nhưng chân lý phải được chân nhận từ chính tự do của con người.
Muốn nhớ lại những ý tưởng xa xưa đó, linh hồn con người cần phải học biết suy tư và tránh xa những ảo ảnh của thế giới khả giác. Con đường tìm lại tri thức trải qua các giai đoạn như sau :
a. Trước tiên, ta có những cảm giác mơ hồ, không chắc chắn (Eikasia = la conjecture).
b. Rồi nhờ kinh nghiệm, ta kiểm soát lại và đạt được những quan niệm khá vững chắc về sự vật (Pistis = la croyance).
c. Sau đó, nhờ suy luận, ta đạt tới những chân lý chính xác, theo kiểu toán học (Dianoia = la connaissance discursive).
d. Sau cùng, ta đạt tới giai đoạn hiểu biết bằng trực giác, trong suốt, tổng hợp, có thể nhận biết các ý tưởng cách tổng hợp cũng như tương quan của các ý tưởng với nhau (Noesis = la connaissance intuitive).
Trong quá trình này, kinh nghiệm cụ thể chỉ có một vai trò phụ thuộc. Đó chỉ là những cơ hội giúp con người nhớ lại những kiên thức tiền kiếp. Con đường tri thức là con đường biện chứng dắt dẫn triết gia đi từ những cảm giác tạp đa đến những ý tưởng riêng biệt, rồi từ những ý tưởng rời rạc đến ý tưởng tổng quát; sau cùng là đạt tới tới ý tưởng siêu việt, tuyệt đối mà Platon đồng hóa với Thượng Đế.
4. Tình Yêu
Platon bàn đến tình yêu trong những đối thoại Lysis, Charmide, Phèdre và nhất là trong Banquet.
Trong tác phẩm Banquet, Platon kể lại câu chuyện trong một bữa tiệc mừng Agathon. Trong bữa tiệc này, sau khi ăn suống say sưa, Eryximaque đề nghị mỗi người sẽ nói một bài ca tụng tình yêu. Mọi người đồng ý với đề nghị này.
Phèdre nói trước, ông cho rằng Tình Yêu là một vị thần làm ích cho nhân loại, giúp con người thực hiện những điều tốt đẹp, vì khi yêu, ngưười ta trở nên tốt, can đảm, và nhiệt thành.
Pausanias thì phân biệt hai thứ tình yêu : tình yêu tầm thường và tình yêu cao đẹp. Tình yêu tầm thường chú trọng đến thể xác; còn tình yêu cao đẹp thì bền bỉ và sâu xa hơn; nó thường là tình yêu giữa hai người đàn ông với nhau.
Eryximaque chủ trương tình yêu không chỉ có trong con người, nhưng bao trùm tất cả vạn vật; tình yêu là sự gặp gỡ, là hòa hợp giữa nhưng cái khác biệt và đối lập nhau; như đàn ông và đàn bà yêu nhau vì khác nhau.
Aristophane thì lại cho rằng chỉ có những cái giống nhau mới tìm đến nhau (le semblable attire la semblable). Ông minh chứng bằng một huyền thoại, theo đó con người ngày xưa có ba loại : nam-nam; nữ-nữ; và nam-nữ. Khi đó con người có bốn chân, bốn tay, một đầu nhưng hai mặt và chúng rất khỏe mạnh. Chúng phá phách và chống lại thần thánh. Thần Zeus ra lệnh chặt đôi họ ra và giao cho thần Apollon việc băng bó vết thương. Từ đó, con người luôn đau khổ và phải đi tìm lại một nửa của mình. Như thế, tình yêu là đi tìm lại sự thống nhất nguyên thủy của chính mình.
Agathon thì cho rằng tình yêu là một vị thần hạnh phúc. Thần tình yêu thì đẹp đẽ, lịch sự, hiền dịu, không thích bạo lực và cưỡng ý. Thần Tình Yêu tạo nên cảm hứng sáng tạo cho nghệ sĩ và đem lại niềm vui sống cho con người.
Cuối cùng là diễn văn của Socrate. Socrate muốn đi tìm lại bản chất đích thực của tình yêu. Socrate kể lại những lời của một bà vãi ngoại quốc tên là Diotime : Vào ngày thần sắc đẹp Aphrodite sinh ra, các thần thánh tổ chức một bữa tiệc mừng. Trong số khách dự tiệc, có thần Poros (Thần Giầu có), là con của thần Métis (Thần Khôn ngoan). Thần Poros uống nhiều mật hoa mên say xỉn và nằm ngủ thiếp bên vườn hoa của thần Zeus. Khi đó, nàng Pénia (Nghèo khổ) ngồi ăn xin bên ngoài, thấy Poros ngủ say; cô nẩy sinh ý định muốn có một người con với poros. Cô nằm xuống bên Poros, và sau đó thì thụ thai và sinh ra Eros.
Như vậy, Eros (tình yêu) là con của thần Poros, mang những tính chất của cha như : thích cái đẹp, cái hay, cái tốt; Eros khôn khéo, thông minh, ăn nói hoạt bát và làm cho người ta say mê.
Nhưng Eros cũng là con của pénia, nên nghèo túng, đi chân đất, ngủ ngoài đường vì không có nhà cửa.
Eros không phải là thần mà cũng không phải là người; vừa giống thần thánh vừa giống con người, nên Eros có thể làm trung gian giữa thần thánh và con người. Eros không đẹp không xấu; không giầu có không túng thiếu; lúc thì hăng say, lúc thì mệt mỏi; chưa có hiểu biết nhưng cũng không phải là ngu muội; Eros luôn tìm kiếm.
Tóm lại, tình yêu là tìm kiếm, là khát vọng. Nó là niềm khát vọng cái đẹp, vì nó được thu thai vào ngày thần sắc đẹp Aphrodite sinh ra; Tình yêu là khát vọng hạnh phúc, khát vọng vĩnh cửu và là nguồn sáng tạo.
Tình yêu là tất cả những cảm hứng, là ý hướng vươn lên, và là thầy của triết gia. Vì triết lý cũng là tìm kiến và muốn vươn lên. Triết lý như thế không phải là cái gì khôn khan, nhưng là khởi điểm cho khát vọng cái đẹp và tình cảm lai láng.
Từ đó, Platon còn đề ra một thứ "biện chứng của tình yêu", để vươn lên đến cái đẹp tuyệt đối, cũng là sự thiện và chân lý tuyệt đối :
"người nào đã được huấn luyện nhiều về những vấn đề Tình Yêu, và người nào đã học hỏi để chiêm ngưỡng được vẻ đẹp theo đúng trật tự và sự liên tiếp, thì vào lúc chót, họ sẽ thình lình chân nhận ra bản chất của một vẻ đẹp kỳ diệu (...), một bản chất trước hết có tính cách hằng cửu, không thăng không giảm, không tăng trưởng không cằn cỗi; thứ đến không đẹp theo quan điểm này và xấu ở quan điểm khác v.v..." [10] "Nếu chúng ta thích những vẻ đẹp ít hoàn hảo, là bởi vì chúng ta thích những vẻ đẹp hoàn hảo hơn, và như thế lần lên, bởi vì chúng ta thích vẻ đẹp tuyệt đối".
5. Sinh hoạt đạo đức
Trong cuốn Phèdre (264a sq), Platon tìm ra một hình ảnh lý thú về sinh hoạt đạo đức của con người như sau :
Con người là một chiếc xe song mã, với một con ngựa trắng và một con ngựa đen; con ngựa trắng thì đẹp đẽ, khoẻ mạnh, nó yêu chuộng sự khôn ngoan và điều độ; ngược lại, con ngựa đen thì xấu xí và bướng bỉnh, nó cần tới những đòn roi mạnh mẽ mới có thể đi theo sự điều khiển của người đánh xe. Hai con ngựa đó, mỗi con kéo về một ngả, nên việc điều khiển cỗ xe này thật là khó khăn. Nếu trị được con ngựa đen, thì con ngựa trắng sẽ có thể kéo cỗ xe tiến bước theo đoàn xa của thần thánh, vươn lên tới thế giới ý tưởng để chiêm ngưỡng những thực tại vĩnh cửu, chân thực. Nhưng nếu không trị được con ngựa đen, thì cỗ xe sẽ lê lết trong vật giới, sa lầy vào những sự vật của trần gian, đầy những ảo ảnh không chân thật.
Như thế, đời sống đạo đức của con người không khác gì hơn một sự làm chủ bản thân, phát huy những đức tính tốt để đạt được hạnh phúc. Đạo đức họa của Platon có thể gồm tóm lại trong ba điểm : hạnh phúc, chính trực và chiêm ngưỡng.
a. Hạnh phúc
Hạnh phúc tức là cứu cánh của kiếp nhân sinh. Platon cho rằng hạnh phúc cần có hai yếu tố : lạc thú (le plaisir) và hiểu biết (la science). Thiếu một trong hai, hạnh phúc của con người không hoàn hảo được. Không bao giờ có kiến thức tai hại. Trái lại lạc thú có thể gây tai họa, cho nên cần phải lựa chọn để đeo đuổi những lạc thú tinh tuyền không gây đau khổ, không lệ thuộc vào đam mê và có thể giải phóng con người.
Việc lựa chọn rất khó khăn, vì trong tình trạng sa đọa con người cần phải có nghị lực để chiến đấu và tự điều khiển chính bản thân mình.
b. chính trực
Trong cuốn République, Platon kể tới ba năng lực của linh hồn con người, gồm :
- Tinh thần (nous), trụ sở là đầu ; tinh thần là thành phần đơn nhất, bất tử. Tinh thần hành động theo nguyên tắc của lý trí; nhân đức đích thực của tinh thần là "khôn ngoan".
- Dũng lực, ở nơi tim (thumos) . Đây là nơi phát sinh những đam mê và hành động theo nguyên lý của sự giận dỗi (orgê). Nhân đức của thành phần này là "can đảm"
- Dục vọng (Épithumia), cơ sở là bụng. Đây là nơi phát xuất các ước muốn hạ đẳng như đói khát, dục tính...
Chính trực là sự hòa hợp, đúng theo trật tự, của ba năng lực đó. Đúng hơn, chính tinh thần, hay lý trí, phải là cơ năng điều khiển trái tim và dục vọng, để có thể làm cho linh hồn con người đạt tới được sự trạng thái quân bình, trật tự và được hạnh phúc.
c. Chiêm ngưỡng
Hơn cả sự chính trực, một linh hồn đạo đức cao cả còn phải biết tách lìa trần gian, không để mình dính líu tới thế giới cảm giác, không bị chi phối do những sự vật bên ngoài, để có thể chiêm ngưỡng được thế giới ý niệm và đạt tới ý niệm Thiện tối cao; đồng thời cũng để thực hiện được điều thiện, là lý tưởng cao nhất của cuộc sống.