Bài 22: Socrate (P3) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Socrate dành cả cuộc đời để làm chứng cho chân lý. Nhưng với Socrate, một người đã muốn trở về với con người và với cuộc sống của con người, lập trường này không phải là cách thức đi tìm những chân lý trừu tượng, mà cụ thể là một đời sống luân lý đúng đắn, mang lại hạnh phúc cho con người.

3. Xây dựng một nền Đạo Đức mới

Socrate dành cả cuộc đời để làm chứng cho chân lý. Nhưng với Socrate, một người đã muốn trở về với con người và với cuộc sống của con người, lập trường này không phải là cách thức đi tìm những chân lý trừu tượng, mà cụ thể là một đời sống luân lý đúng đắn, mang lại hạnh phúc cho con người.

3.1 Hạnh phúc

Socrate thấy rằng loài người có một mối lo âu mạnh hơn hơn hết : đó là lo tính để đạt được hạnh phúc. Ông chứng minh hạnh phúc không phải ở sắc đẹp, không phải ở sức mạnh, giầu có, danh giá hay những gì tương tự. Nhưng ông cũng không phải là một người chủ trương khổ hạnh, mà là một thái độ khôn ngoan, biết làm chủ bản thân mình : "Tại sao tôi lại không làm nô lệ cho cao lương mỹ vị, cho giấc ngủ, cho khoái lạc ? Ấy là vì tôi biết những thích thú êm ái hơn, không chỉ giới hạn trong thời gian, mà còn vui hưởng không ngừng". Niềm vui trường tồn không thể tìm thấy ở đâu khác hơn nơi nhân đức; ông nói tiếp "Theo ý ông thì có loại khoái trá nào có thể so sánh với niềm hy vọng tự mình sẽ làm cho mình đáng quí mến hơn và sẽ có những bạn bè đạo đức hơn không ? Đó là hy vọng êm ái của suốt đời tôi" [10].

Như thế, nhân đức chính là sự hoàn thiện của con người để đạt đến đời sống hạnh phúc như là cứu cánh của cuộc đời; và như thế, những điều mà người ta thường gán cho Socrate qua các câu tiêu biểu như "Không có người nào cố ý hành động xấu", và "Đạo đức là khoa học" không phải là một chủ trương "duy tín" như thể tin vào một "nguyên tắc đạo đức" siêu hình nào. Ông nói rằng muốn đạo đức cần phải có tri thức, nhưng đây là tri thức sự thiện [la science du bien].

3.2 Nhân đức là tri thức

Ông cho rằng người ta không thể làm điều thiện, nếu trước hết họ không biết sự thiện là gì, hay thực sự họ không có khái niệm về sự thiện. Ngược lại, nếu người ta biết được chân lý, thì đương nhiên người ta sẽ thi hành nó. Cho nên, Socrate đưa ra một câu nói nổi tiếng : "Không có người nào cố ý hành động xấu".

Chính từ đây ta có thể hiểu rõ hơn lập trường của Socrate, theo tiến trình : con người muốn hạnh phúc - hạnh phúc đích thực ở nơi nhân đức - muốn có nhân đức để được hạnh phúc cần phải có tri thức đúng đắn.

Ở nền tảng của lập trường này, chúng ta phải hiểu lập trường của Socrate là : không ai cố tình làm điều xấu vì không ai tự mình muốn đánh mất hạnh phúc của mình; và vì đường lối đi tìm nhân đức nhất thiết bao gồm sự hiểu biết thế nào là hạnh phúc; nếu không người ta sẽ rơi vào tình trạng nô lệ cho những thú vui giả trá. Có lẽ, lập trường "duy lý" của Socrate, ban đầu, cũng xuất phát từ những nhận xét thường tình trong cuộc sống : có nhiều người không hiểu chân phúc của mình ở đâu nên đã làm những điều xằng bậy để kiếm những hạnh phúc giả trá. Xénophon viết :

"Socrate không phân tách sự thông thái khỏi một hạnh kiểm tốt, và ông ấy cho rằng chỉ có người biết điều tốt và điều thẳng để thực hiện; và biết điều xấu thể chạy xa, [kẻ đó] mới là thông thái và có phẩm hạnh đúng mực. Người ta còn hỏi ông ấy xem ông ấy có cho rằng các người biết các điều phải làm nhưng làm ngược lại, là người học thức không ? Ông ta trở lời rằng các người ấy cũng dốt nát như là họ phóng đãng. Bởi vì, theo ý ông ta, người nào biết trong các hành động có thể thực hành được những hành động ích lợi nhất, thế nào cũng chọn các hành động này. Vậy, khi người ta làm điều xấu, người ta cũng ngu dốt như là người ta tội lỗi" [11].

Rồi từ đó, Socrate đi đến lập trường "duy lý" triệt để khi khẳng định tri thức cũng chính là nhân đức. Xénophon cho biết lập trường của Socrate khẳng tri thức và ạo đức là mộgt, nghĩ alà muốn sống đạo đức phải tri thức; và chỉ cần có tri thức về nhân đức là sống nhân đức [12].

Lập trường này có thể do từ chính phương pháp của Socrate; vì khi cố gắng hình thành tri thức sự thiện trên căn bản khái niệm hay định nghĩa như vậy, Socrate đồng thời quan niệm lý trí là quan năng tuyệt đối cho tri thức và sự thiện. Do đó, ông mặc nhiên chấp nhận "trong con người, thành phần chính yếu và căn bản nhất là linh hồn; mà linh hồn lại có bản chất linh thiêng giống thần minh và bất tử như họ. Vì vậy, tác vụ đặc biệt của linh hồn là suy lý như một lý trí. Đó mới là. căn bản tuyệt đối đích xác cho mọi kiến thức" [13].

Hoặc cũng có thể lập trường này chịu ảnh hưởng của tôn giáo Orphisme, theo đó, con người ta, trước đây, đã ở trong thế giới thần thánh và đã có những tri thức phong phú rồi. Chính vì phải nhập vào thân xác thì con người trở nên u mê và quên lãng chân lý. Như thế, tri thức là cái gì bẩm sinh trong linh hồn con người; và nhiệm vụ của triết lý là khai mở lại những kiến thức ấymà thôi. Mặt khác, vẫn trong truyền thống ấy, linh hồn con người được coi là cao cả hơn thể xác. Khi hiểu biết sự thiện, đó là con người sống bằng chính hoạt động của linh hồn; điều đó lại chẳng cao quí hơn nhưng hoạt động của thể các, kể cả hoạt động am hợp với điều thiện nữa sao ? Và phải chăng Socrate cũng cho rằng : khi hiểu biết chân lý một cách sáng suốt, con người đang trở về với nguồn cội thần thánh của mình ?

Đây là nguồn gốc học thuyết "Hồi Tưởng" nổi tiếng của Platon.

3.3 Khững khía cạnh của đời sống đạo đức

Từ nền tảng đó, Socrate cho thấy đức tính luân lý đích thực để giúp con người được hạnh phúc đó là sự khôn ngoan; bao gồn các khía cạnh như :

* Tiết độ : là nghệ thuật giúp người ta tiết chế các ham muốn. Đa số người ta đau khổ vì họ là nạn nhân của các ham muốn của chính mình.

* Lòng can đảm : là đức hạnh khiến chúng ta tự kiềm chế và tự khép vào mỗt kỷ luật được.

* Sự kiên trì

* và biết làm việc : trong xã hội chiếm hữu nô lệ như Athènes, có lẽ duy có Socrate là người chống lại cách sự lười biếng của những công dân vô công rỗi nghề; và đề cao sự làm việc như một cách thức giúp con người sống xứng đáng; một bảo đảm cho nền đạo đức và cho niềm hạnh phúc chân chính.

"Trong các người tự do, anh nghĩ ai hạnh phúc nhất: người sống ăn không ngồi rồi hay người lo làm những việc lợi ích...? Anh dám tưởng rằng: tính nhu nhược và sự nhàn rỗi giúp mình học hỏi nhiều, ghi nhớ điều mình biết, bồi bổ sức khỏe, làm cho thân xác tráng kiện... còn sự làm việc chuyên cần là vô dụng sao ?"

* Ngoài ra, Socrate cũng đề cao việc luyện tập điền kinh, luyện tập quân sự

Trong số những chỉ dẫn thực hành để đạt được nhân đức, chúng ta cần lưu ý một số điểm :

* Công Bằng [luật pháp]

Trong cuốn "Những cuộc đối thoại đáng khi nhớ" của Xénophon, chúng ta Socrate khẳng định "người nào tuân theo luật pháp là công bằng, người nào cưỡng lại là bất công" và "[Socrate] : Vậy chúng ta có thể định nghĩa công bằng là người biết các luật pháp mà họ phải tuân theo trong khi đối xử với người khác hay không ? - [Hippias : Tôi có cảm tưởng rằng phải định nghĩa như vậy] [14].

Như thế, Socrate trình bầy đức công bình trong tương quan với luật pháp. Suốt đời. Socrate vẫn tuân giữ luật pháp của thành phố. Trước cái chết, ông luôn ý thức về nghĩa vụ của mình với thành phố, trong sự trung thành hết mực, trong lòng yêu mến và biết ơn thành phố Athènes [15]:

"Ngoài những công ơn mà luật pháp đã cho chúng ta hưởng : sinh ra, giáo dục, pháp luật còn cho chúng ta trở thành những công dân tự do, tự do chọn lựa quốc tịch".

Socrate coi quê hương còn cao hơn cha mẹ của mình. Đối với luật pháp, người ta có quyền biện minh và thuyết phục. Nếu không được thì phải có bổn phận làm những gì là uy quyền luật pháp bắt phải chịu, cho dù là bị đánh đòn, bị xiềng, bị tù đầy hay phải hy sinh. Đối với ông, luật pháp trở thành cái gì linh thiêng và bất khả xâm phạm. Ông khẳng định :

"Phải, chính trong những thái độ như thế, chúng ta mới xử sự đúng với tinh thần của luật pháp : không nhượng bộ, nhưng cũng không lùi bước, nhất là không đào ngũ, không bỏ nhiệm vụ của mình trước phiên tòa cũng như trước trận chiến. Trái lại, bất cứ chỗ nào chúng ta cũng phải hành động đúng như tinh thần của luật pháp, của quê hương; bằng cách hoặc vâng phục, hoặc là thuyết phục. Tất cả những hành động hung hãn hoặc với cha của chúng ta, hoặc với mẹ của chúng ta đều không xứng đáng, huống hồ là với quê hương của chúng ta" [51b].

Đối với quê hương, Socrate cho rằng "những ai chống lại thì phạm tội nặng gấp ba lần : vì chúng ta đã chống lại một cơ quan đã sinh ra chúng ta, đã nuôi dưỡng chúng ta và đã được chúng ta hứa sẽ vâng phục.."[51c].

Hơn thế, ông cón thấy luôn có những "luật pháp bất thành văn" thịnh hành ở tất cả các quốc gia, những luật ấy không phải loài người nhưng chính thần thành đã qui định cho luật pháp cho nhân loại [16].

* Xây dựng niềm tin nơi Thượng Đế

Socrate suốt đời vẫn có lòng sùng kính thần thánh theo truyền thống quốc gia. Ông cũng nhiệt thành truyền dạy lòng tin tưởng nơi Thượng Đế. Nói với một người theo mình là Aristodème le Petit, một người không thực hành tôn giáo chính thức và chế diễu những người thực hành tôn giáo, Socrate đề ra một chứng lý về sự hiện hữu của Thiên Chúa qua trật tự vũ trụ. Ông nói : "Anh chỉ cần nhìn ngắm công trình của thần thánh, cũng đủ tỏ lòng kính cẩn..., Đấng đã an bài và bảo tồn vũ trụ, ta sẽ thấy Ngài thực hiện những công trình vị đại hơn hết, nhưng chính Ngài, ta không thấy được..." [?]. Lý chứng này vừa chứng minh Thiên Chúa vừa nói lên bản tính tri thức của Ngài [nature intellectuelle]. Đó cũng là lý chứng về sau Platon triển khai, vững mạnh hơn nữa trong Le Philèbe [2c] qua miệng Socrate.

Thần Thánh vẫn hằng theo dõi hành vi hoạt động của nhân loại, "cho nên, tâm hồn sùng mến sẽ luôn luôn ca tụng và tri ân, để đến ngày giờ nhất định, một khi cổi bỏ các vỏ xác hay chết này, linh hồn sẽ bay về Thượng Đế vô hình bất tử. Khi còn sống, con người học cho biết chết thể nào, để cho hồn được hạnh phúc..."

Vì thế, Socrate khuyến cáo những nhà hiền triết cần tin vào sự hiện hữu của Thần Thánh, hãy công nhận giá trị của những ơn lành mà Thượng đế hằng ban cho; hãy có lòng đạo đức: tuân giữ các nghi lễ truyền thống thông dụng trong nước, với một tâm hồn trong sạch, và không cầu xin điều gì khác hơn là xin Ngài ban cho chúng ta những điều tốt lành. Thường thường chúng ta không biết điều gì tốt cho chúng ta, còn Ngài dư biết điều đó hơn chúng ta.

P.B Grenet [17] cho rằng những người theo chủ thuyết Socrate đã không trung thành với tinh thần tôn giáo ấy của Socrate, một trong những trục đối kháng của ông với các nhà ngụy biện. Trong khi các nhà ngụy biện, chẳng hạn Protagoras, luân đặt nghi vấn về vấn đề thần thánh, thì Socrate tìm cách minh chứng sự hiện hữu của các thần. Hơn nữa, Socrate bị kết án vì lòng tin tưởng nơi Thần Thánh, điều đó cho thấy tôn giáo không phải là nét phụ thuộc trong đời sống của Socrate.

Socrate đã bị kết án "du nhập các thần mới". Thật ra, ta không hề thấy Socrate du nhập một vì thần nào mới vào Athènes; mặt khác ta cũng biết Dân Athènès vốn khoan dung với những phượng tự ngoại lai. Như thế, lời kết án này có lẽ nhằm tới một điểm úy kỵ lớn của người Athènes, nhằm tới "lập trường tôn giáo" của Socrate, một thái độ khác biệt với "niềm tin" truyền thống, đặc biệt của giới trí thức Athènes thời đó.

Chúng ta phải hiểu điều này trong nền văn hóa của Người Hy Lạp. Vào thời Thalès, những nhà nghiên cứu triết học đầu tiên đã nhận thấy rằng : vạn vật chứa đầy thần thánh. Đến thời Socrate, việc nghiên cứu ấy đã đưa các y sĩ và những nhà vật lý đến chỗ chứng minh rằng các nguyên nhân tự nhiên, trong trật tự của nó, không lệ thụôc vào sự can thiệp siêu việt. Khảo luận của Hippocrat nhan đề "Về sự Thánh thiêng xấu xa" [Du Mal Sacré] không còn nhìn thấy bịnh élipsie là một sự trừng phạt của các thần, mà là kết quả của khí hậu, thức ăn và gió máy. Những điều này chắc chắn vẫn là những nguyên nhân thần linh, nhưng theo nghĩa "tất cả là thần thánh", thần thánh nội tại trong vũ trụ. Hoặc Anaxagore và Diogène d' Apollonie, các ông minh chứng rằng Tinh Thần làm việc khắp nơi, nhưng Thần không tự mình thực hiện tất cả những gì mình gây ra; có những nguyên nhân trung gian can thiệp. như thế, Thần thánh như thế được đặc vào vị thế riêng của minh, vị thế siêu việt. Thần thánh không còn được nhận biết trong chính kinh nghiệm con người.

Thế mà Socrate lại tỏ ra khinh bỉ thần thoại, chống đối những quan niệm mang tính hình thức về thượng đế [nhưng không phải Socrate coi thường thần thánh, ông chỉ không chấp nhận hình ảnh không đúng đắn về thần thánh]. Socrate chẳng những trung thành trong những nghĩa vụ phương tự, nhưng ông còn nghe tiếng nói của thần thánh, đón nhận các ý kiến của thần thánh và nhân danh thần thánh để chống lại những sai lạc đang lan tràn trong xã hội [18].

Có lẽ dân Athènes cảm thấy Socrate muốn "sở hữu" uy tín dành cho Sấm ngôn; ông đề cao linh cảm cá nhân, tức là đảo lộn nguyên tắc căn bản của tôn giáo truyền thống; và thuyết độc thần của ông là một mối nguy hại, làm lung lay thế lực của các vị Thần quốc gia. Hình ảnh của Socrate, như thế, không phải chỉ là một người đưa ra một nền phương tự mới, nhưng còn là kẻ muốn phá đổ nguyên tắc triết lý ["niềm tin" của dân Athènes] về thần thánh [19]. Chính những điều đó phải dẫn đến bản án tử hình dành cho Socrate.

Chú thích

[10] Xc. André Cresson, trang 79.

[11] Trích lại trong André Cresson, Sđd, trang 83

[12] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 39.

[13] Lê Tôn Nghiêm, Lịch Sử Triết Học Tây Phương II, tr.10.

[14] Trích lại trong André Cresson, Sđd, trang 91-92.

[15] Những đoạn sau đây trích trong tác phẩm Criton của Platon; trích lại trong Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 68-69

[16] Xc. André Cresson, Sđd, trang 90-91.

[17] P.B. Grenet, Sđd, trang 63.

[18] Chúng ta không nên lầm với trường hợp Anaxagore, bị kết án năm 432 vì đã cố gắng định nghĩa bản chất của các tinh tú [Xc, Apologie de Platon, 27 dù; hoặc lầm lẫm với Diogène d' Apollonie, người cũng đã bị làm khó dễ.

[19] Grenet kể lại một trường hợp tương tự trong tập Troyennes của Euripide như sau :

- Hécabé : "Lạy Ngài, là Đấng nâng đỡ quả Đất, Ngài ngự trên trái đất. Dù Ngài khó được nhận biết, Ngài là thần Zeus, Thần Tất Định của Thiên Nhiên hay thần Khôn Ngoan của những người chết, tôi vẫn cầu nguyện trước mặt Ngài. Quả thật, khi bước theo một con đường không tiếng động, Ngài đã dẫn dắt những kẻ phải chết đi trong đường công chính.

- Mélélas : Cái gì vậy ? Anh đã sáng tạo một lời cầu nguyện mới với các thần ư ?. Grenet, Sđd, trang 65.

< Xem tiếp phần 2

Xem tiếp phần 4 >