Bài 22: Socrate (P1) - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Người ta có thể kể rất nhiều chi tiết về cuộc đời Socrate; nhưng lại khó biết điều nào là thật, điều nào là bịa. Socrate sinh vào khoảng năm 470, tại làng Alopece, ngoại ô thành Athènes, trên quãng đường Marathon. Thân phụ của Socrate là ông Sophronisque làm nghề điêu khắc; và thân mẫu là bà Phénarète làm nghề bà đỡ. Vợ của Socrate là bà Xanthippe [có người cho rằng Socrate có hai vợ], một phụ nữ rất khó tính và hay kêu trách Socrate. Gia đình có ba người con là Lamproclès, Sophonisque và Ménexène. Có lẽ vì hoàn cảnh khó khăn và phải nuôi nấng ba đứa con nên bà Xanthippe hay gắt gỏng và than phiền. Có lần Socrate khuyên các thanh niên lên lấy vợ, nếu vợ hiền lành thì sẽ được hạnh phúc; còn nếu gặp bà vợ dữ tợn thì sẽ trở thành triết gia; khi khác người ta lại kể rằng Socrate tuyên bố : "Bởi vì tôi thấy rằng những người muốn trở thành những kỵ sĩ tốt đã chọn, không phải những con ngựa lành, mà là những chiến mã bất kham". Tuy nhiên, bà Xanthippe cũng là một người phụ nữ trung tín và yêu thương chồng. Khi Socrate sắp phải chịu hình phạt uống thuốc độc, bà đã đến nơi và kêu khóc thảm thiết.

22

SOCRATE

[470-399]

1. Sách Tham Khảo riêng

1. André Cresson, Socrate, Bản dịch của Nguyễn Hữu Dung và Nguyên Sa, Ngôn ngự Xuất bản, 1966.

2. Lê Tôn Nghiêm, Socrate, Ca Dao, in lần thứ hai, 1975.

3. G.S. Nguyễn Đình Hoan, Socrate và các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp; Giáo trình Lịch sử triết học Tây Phương, tập I, Nhóm Tìm Hiểu Triết Học ấn Hành, Đại Học Văn Khoa Huế, bản ronéo.

2. Sử liệu về Socrate

Có ba nguồn sử liệu chính về Socrate, và mỗi nguồn lại nhìn về nhân vật này một cách khác nhau.

* Aristophane, trong kịch bản "Les Nuées", trình bày Socrate như một nhà ngụy biện; quyến dụ thanh niên bỏ các thần của thành bang và truyền bá những tư tưởng mông lung, xa vời.

* Xénophon, là một học trò của Socrate, trình bầy nhiều chi tiết về Socrate trong 4 quyển : Biện hộ của Socrate [apologie de Socrate]; "những cuộc đối thoại đáng nhớ" [Entretiens mémorables de Socrate; được viết vào năm 370, khoảng 20 năm sau cái chết của Socrate]; Bữa tiệc [Banquet; cùng tên với một tác phẩm của Platon]; và Kinh Tế Luận [Économique]. Xénophon cố gắng bênh vực tội trạng cho Socrate, nhưng ông không cho thấy tư tưởng của Socrate có điều gì giá trị.

* Platon, trong hầu hết các tác phẩm của mình, đã đưa nhân vật Socrate thành một nhân vật lý tưởng, một con người đạo đức, thánh thiện. Platon trình bầy cuộc đời và nhất là cái chết của Socrate như một mẫu gương điển hình của các triết gia. Người ta thường coi những đối thoại đầu tiên, thường được gọi là những đối thọai có tính cách Socratiques [dialogues socratiques] trình bầy lý thuyết của Socrate khá trung thực.

Cũng như với Pythagore hay Empédocle, Socrate đã trở thành một nhân vật huyền thoại.

I. TIỂU SỬ

Người ta có thể kể rất nhiều chi tiết về cuộc đời Socrate; nhưng lại khó biết điều nào là thật, điều nào là bịa. Socrate sinh vào khoảng năm 470, tại làng Alopece, ngoại ô thành Athènes, trên quãng đường Marathon. Thân phụ của Socrate là ông Sophronisque làm nghề điêu khắc; và thân mẫu là bà Phénarète làm nghề bà đỡ. Vợ của Socrate là bà Xanthippe [có người cho rằng Socrate có hai vợ], một phụ nữ rất khó tính và hay kêu trách Socrate. Gia đình có ba người con là Lamproclès, Sophonisque và Ménexène. Có lẽ vì hoàn cảnh khó khăn và phải nuôi nấng ba đứa con nên bà Xanthippe hay gắt gỏng và than phiền. Có lần Socrate khuyên các thanh niên lên lấy vợ, nếu vợ hiền lành thì sẽ được hạnh phúc; còn nếu gặp bà vợ dữ tợn thì sẽ trở thành triết gia; khi khác người ta lại kể rằng Socrate tuyên bố : "Bởi vì tôi thấy rằng những người muốn trở thành những kỵ sĩ tốt đã chọn, không phải những con ngựa lành, mà là những chiến mã bất kham". Tuy nhiên, bà Xanthippe cũng là một người phụ nữ trung tín và yêu thương chồng. Khi Socrate sắp phải chịu hình phạt uống thuốc độc, bà đã đến nơi và kêu khóc thảm thiết.

Socrate có một khuôn mặt xấu xí, đầu hói, trán nhô, mũi tẹt, mắt lồi, thân mình nhỏ, bụng bự. và điều đó làm cho nhiều người thắc mắc. Người ta thường cho rằng nét đẹp của thế xác là biểu hiện của cái đẹp bên trong. Socrate khi thì biện minh cho mắt và mũi của mình là đẹp vì nó được tạo nên đúng mục đích của nó; khi khác ông cho rằng mình có nhiều đam mê và những tính nết xấu như được biểu lộ trong khuôn mặt; chính nhờ nghiên cứu triết học nên tâm hồn ông được biến đổi.

Có lẽ Socrate cũng được hấp thụ một nền học vấn như các thánh niên thời ấy : văn chương, âm nhạc, thi ca, hình học và thể dục và quân sự. Ông cũng được tiếp xúc với nhiều nhân vật danh tiếng như Anaxagore, nhà vật lý học Archélaus, Euripide; và được nghe những bài giảng của những nhà ngụy biện như Prodicos, Hippiax, Protagoras, Gorgias...

Socrate sống một đời nghèo khó, thanh bạch, không ham mê quyền chức, lợi lộc. Ông ăn mặc đơn giản, với chiếc áo choàng cũ kỹ nhưng sạch sẽ, đứng đắn; khác hẳn với lối chải chuốt của các triết gia ngụy biện và cũng khác sự rách rưới của các triết gia khuyển nho (les cyniques).

Ông là một người công dân hết lòng yêu quê hương đất nước. Có một thời gian ông làm lính và tham dự một số trận chiến. Cũng có một thời gian Socrate được bầu làm chánh án; và trong nhiệm vụ này, ông đã xét xử một cách công minh và can đảm.

Socrate sống đời sống tôn giáo gương mẫu, ông vẫn dâng cúng thần thánh, tôn kính tổ tiên, giữa những tục lệ trong dân. Tư cách của Socrate rất điềm đạm, can đảm, nhẫn nại, làm chủ được mình, có một mối đam mê suy tư và khả năng tập trung tinh thần rất cao. Ông cũng có một số bạn bè và học trò, trong đó nội bật nhất là Platon; và ông thường bàn luận triết lý với họ.

Socrate không mở trường dạy học và không thích đi ra ngoài thành Athènes. Hằng ngày ông lui tới các nẻo đường, sân vận động, hội đường để trò chuyện và tranh luận triết học với mọi người, sống theo kiểu các triết gia ngụy biện bấy giờ.

Với những kẻ mị dân, tàn bạo, những người chỉ biết tìm tư lợi bằng cách che đậy sự thật, sử dụng ngôn ngữ từ chương, bóng bẩy để làm lung lạc niềm tin của thanh niên, thì ông mạnh dạn đương ầu và dồn đối phương đến chỗ phải chấp nhận sự sai lạc của mình.

Kiểu nói chuyện của ông thu hút được nhiều thanh niên. Tuy nhiên, dân thành Athènes lúc đó không thấy rõ được tính cách chân chính và độc đáo riêng biệt của Socrate so với các triết gia ngụy biện. Mặt khác, một số triết gia ngụy biện cảm thấy mình bị mất uy tín và quyền lợi vì sự có mặt của Socrate.

Năm 399, trong một hoàn cảnh không bình thường của thành phố Athènes, Socrate bị tố cáo vì ba tội :

- Không tin tưởng vào tôn giáo của thành bang.

- Tuyên truyền việc bái những vị thần mới.

- Làm hư hỏng thanh niên.

Tòa án gồm 556 người; và ban đầu số phiếu chống Socrate chỉ có 281, số phiếu bênh ông là 275. Trong tình hình đó, ông có thể được tha hoặc sử phạt rất nhẹ. Nhưng khi Socrate biện hộ cho mình, Socrate cho rằng mình đã hết lòng phục vụ thành bang, làm lợi ích cho dân chúng; nên chỉ có một hình phạt xứng đáng là đưa ông vào nhà dưỡng lão để nuôi suốt quãng đời còn lại (lúc này ông đã 70 tuổi). Các người đang ủng hộ ông cũng bực tức, cho đó là những lời ngạo mạn nên bỏ phiếu đồng ý xử tử.

Socrate bị phạt phải uống thuốc độc. Bạn bè tìm cách để ông có thể trốn thoát khỏi Athènes, nhưng Socrate từ chối. Ông đảm nhận hình phạt một cách thanh thản, bình an. Các bạn hữu và học trò tìm cách lo lót để cứu Socrate, nhưng ông nhất mực từ chối, vì không muốn vi phạm luật pháp quốc gia, không muốn để lại gương xấu cho thanh niên và làm họ mất niềm tin vào công lý. Trước giờ chết, ông còn bàn luận về vấn đề linh hồn bất tử với bạn bè và môn đệ (như được Platon ghi lại trong cuốn Phédon).

II. HỌC THUYẾT

1. Sứ mệnh của Socrate

1.1 Khác với các nhà vũ trụ luận

André Cresson tóm tắt lập trường của Socrate đối với các nhà triết lý siêu hình trong khuyết điểm sau [2]:

- Công việc ấy không thể làm được với các tài liệu mà nhân loại có.

- Công việc ấy vô ích vì là vô dụng cho công việc duy nhất quan trọng là công việc chuẩn tắc sinh họat của chúng ta.

- Công việc ấy là bất tín, vì muốn khám phá các bí mật mà các thần thánh đã lưu tâm giấu kín, là một việc phạm thánh.

Xénophon viết : Socrate nghĩ rằng : Loài người không thể khám phá được các bí mật ấy và nếu người ta dò xét những bí hiểm mà thần thành không họ cố làm rạng rỏ cho chúng ta, thì người ta sẽ làm thất ý các thần thánh [3].

1.2 Khác với các nhà ngụy biện

Về vũ trụ luận, lập trường của Socrate khá giống với lập trường của các nhà ngụy biện. Tuy vậy, mối bận tâm lớn của Socrate lại chính là việc đấu tranh với các nhà ngụy biện. Dù cũng tin tưởng vào thế lực của ngôn từ như các nhà ngụy biện, nhưng Socrate không chịu được lối trình bầy nặng tính cách hào nhoàng, từ chương. Nhất là Socrate không chấp nhận thái độ hoài nghi của họ. Các nhà ngụy biện, trong khi chối bỏ tri thức siêu hình về vũ trụ, thì cũng chối bỏ luôn cả khả năng biết sự thật của con người về mọi vấn đề. Ngược lại, Socrate lại dồn hết tâm lực để giúp con người có thể tự tìm thấy những kiến thức chắc chắn về vấn đề luân lý.

1.3 Lập trường của Socrate

1.3.1 Chân lý Luân lý

Trước hết, học thuyết của Socrate lấy vấn đề con người và những nhiệm vụ của con người là đối tượng chính của triết học, đó là một học thuyết về luân lý. Socrate tin tưởng rằng con người có thể tìm hiểu những điều thuộc đời sống thực tiễn, để tìm thấy những chân lý khách quan về một nền đạo đức thực tiễn. Ông tin vào nhân đức, tin vào công lý và coi đó là cách sống hợp với ý muốn thần thánh.

Chính vì thế, Xénophon viết về Socrate như sau :

Luôn luôn đàm luận về các việc mà loài người làm được, Socrate cứu xét cái gì là sùng tín hay bất tín, cái gì là ngay thẳng hay ô nhục, cái gì là công bằng hay bất công, cái gì là khôn ngoan hay điên rồ; cái gì là can đảm hay khiếp nhược, cái gì là Nhà Nước và một người nhà nước, cái gì là một chính phủ và người ta phải cầm quyền như thế nào. Kết luận, Socrate biện thuyết về tất cả các kiến thức tạo thành một người đạo đức, nếu người ta không có các kiến thức ấy thì Socrate nghĩ rằng người ta sẽ xứng đáng với danh tính nô lệ. [4]

1.3.2 Hãy biết chính mình

Để đi vào đời sống luân lý, Socrate chọn câu nói trên cửa đền thờ Delphes làm châm ngôn của mình : "Anh hãy hiểu biết chính anh". Socrate nói về tầm quan trọng của sự nhận biết chính mình như sau :

Đối với con người ở đời, sự biết chính mình là nguồn phát xuất vô số điều thiện, còn sai lầm về chính mình gây trăm ngàn tai hại, đó không phải là một chân lý hiển nhiên sao ? Bởi ai biết mình, thì biết điều gì lợi ích cho mình, họ phân biệt việc gì có thể làm được với việc gì không thực hiện được. Như thế, khi làm điều gì họ có thể làm được, họ cung cấp cho mình những sự cần thiết và sống hạnh phúc; còn khi tránh việc vượt qua những khả năng mình, họ không sai lỗi và tránh được những kết quả tai hại; sau hết, vì có đủ khả năng phê phán người khác hơn, nên họ nhờ tài khai thác đem lại cho mình nhiều lợi ích quan trọng và tránh được những tai họa. Trái lại, ai không biết mình và giá trị của mình, họ cũng không biết tha nhân và nhân sự: họ không biết điều họ phải làm, điều họ đang làm, cũng không biết họ đang xử dụng ai, nhưng chán mọi sự, họ mất dịp thu thập lợi ích và sa vào tình trạng khốn khổ. [5]

Người ta coi châm ngôn ấy là nền tảng cho lập trường nhân bản của Socrate, và nó tạo nên một ảnh hưởng sâu xa cho tinh thần nhân bản tây phương. Léon Brunschvicg viết : sáng kiến của Socrate là "một lời hô hào chúng ta ý thức về chính mình, và lời hô hào ấy tất nhiên sẽ đóng một ấn dấu trên diễn tiến của nền văn minh chúng ta mà từ nay không thể xoá bỏ đi được" [6].

1.3.3 Vô tri thông thái

Theo Socrate, nhân loại có ba hạng người :

- hạng người dốt nát mà không biết mình dốt,

- hạng người dốt nát và biết mình dốt,

- và hạng thứ ba là người biết mình biết.

Socrate tự xếp mình vào loại thứ hai, ông nói rằng "tôi chỉ biết một điều là tôi không biết gì cả" [7]. Chủ trương vô tri của Socrate không phải là thái độ hoài nghi của những người ngụy biện. Tuy là người đầu tiên thú nhận sự ngu dốt của mình, nhưng chính Socrate lại xây dựng tất cả mọi hy vọng của mình trên căn bản chân lý. Socrate vững tin ở chân lý khách quan. Ông dành cả cuộc đời để tìm kiếm và giúp người khác tìm ra chân lý. Do đó, triết lý của ông là một cố gắng định nghĩa sự việc bằng những khái niệm rõ ràng.

Thái độ này cũng đưa Socrate lên hàng tiên phong của khuynh hướng "ngu dốt thông thái" như Nicolas de Cuse sau này.

1.3.4 Sứ mệnh thần linh

Socrate luôn tin rằng mình có vị thần hộ mệnh, vị thần ấy biến đổi cuộc đời ông, giúp ông tránh những chuyện sai lầm. Chính nhờ tin tưởng ở thần hộ mệnh, nên Socrate có thể bình thản đón nhận những nghịch cảnh của đời mình; ông nghĩ rằng không nên tự biện hộ, không vượt ngục và chấp nhận cái chết một cách anh hùng.

Nhất là Socrate tin tưởng Thần Thánh đã ủy nhiệm cho ông một sứ mệnh cao cả. Trong lời nói trước toàn án Socrate luôn nại đến sứ mệnh này :

"Nếu người ta vu cáo cho tôi như thế, thì chỉ vì có một cái gì ở trong tôi : đó là đức khôn ngoan. Đức khôn ngoan đây không phải là của loài người. Vì nếu là của loài người thì tự tôi, tôi có thể đạt tới, đàng này không. Đây là đức khôn ngoan không nằm trong mực thước của loài người. Chính đức khôn ngoan đó tôi không hề hiểu được [Ở đây, cử tọa làm ồn ào 20d] [8].

Rồi Socrate kể lại chuyện Chéréphon, một người bạn thân của Socrate và là một nhà ủng hộ chế độ dân chủ; ông ta đã đến Athènes để hỏi vị tư tế Pythie xem có ai khôn ngoan hơn socrate không; vị tư tế trả lời: "Không ai khôn ngoan hơn Socrate" [21d] [9].

Chú thích

[1] Có tài liệu viết ba tội của Socrate là : tội kinh mạn thần thánh, phá đổ nền luân lý, và đầu độc thanh thiếu niên.

[2] André Cresson, Socrate,Sđd, trang 70.

[3] Như trên, trang 70.

[4] Như trên, trang 71.

[5] Xénophon, Mémorables IV, 11/26.

[6] Le Progrès de la conscience dans la phisolosphi occidentale, PUF.T.I, tr. 4; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm II, Sđd, trang 7.

[7] Platon, Apologiede Socrate, tr. 21A-23C; trích lại trong G.S Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 56.

[8] Platon, Apologie de Socrate, trích lại trong G.S Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 56.

[9] Platon, Apologie de Socrate, trích lại trong G.S Nguyễn Đình Hoan, Sđd, trang 56.

Xem tiếp phần 2 >