Bài 20: Gorgias de Léontini - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Gorgias sinh ra và lớn lên ở Léontium, thuộc đảo Sicile. Ông là học trò của Empédocle [1] và Tisias. Năm 427, ông được các người đồng hương ở Leontium gởi đến Athènes để biện hộ cho quê hương. Cũng trong dịp này, ông du nhập vào Athènes khoa hùng biện của người Sicile. Ông sống ở Athènes không lâu.
20
GORGIAS DE LÉONTINI
[Khoảng 483-375]
I. TIỂU SỬ
Gorgias sinh ra và lớn lên ở Léontium, thuộc đảo Sicile. Ông là học trò của Empédocle [1] và Tisias. Năm 427, ông được các người đồng hương ở Leontium gởi đến Athènes để biện hộ cho quê hương. Cũng trong dịp này, ông du nhập vào Athènes khoa hùng biện của người Sicile. Ông sống ở Athènes không lâu.
Gorgias là một nhà hùng biện trứ danh và cũng tham gia vào chính trị. Ông viết sách về quang học [optique]. Về triết học, hình như ông chống lại những quan điểm của phái Élée cũng như phái Ionie. Ông để lại tác phẩm "Du Non-Etre ou de la Nature", trong đó, ông sử dụng kiểu aporie của Zénon, và hình như Périclès rất thán phục hiệu quả của phương cách này, để phủ nhận cả hữu thể lẫn khả năng nhận thức và trình bầy hữu thể. Nhưng ở nơi khác ông lại hết sức đề cao sức mạnh của Logos.
II. LÝ THUYẾT
I/ HƯ VÔ CHỦ NGHĨA ?
Nhà triết học hoài nghi lớn của Hy Lạp, Sextus Empiricus, đã tóm tắt tác phẩm Peri Physeôs [Sur le Non-Être] của Gorgias với ba điểm như sau :
- Thứ nhất không có gì hiện hữu;
- Thứ hai, nếu có cái gì hiện hữu, con người không thể nắm bắt được.
- Thứ ba, nếu như con người có thể hiểu được đi nữa thì cũng không thể diễn tả hay không thể nói được với người khác.
Dựa vào những mệnh đề này, lịch sử triết học thường trinh bầy Gorgias như một người chủ trương hoài nghi và hư vô chủ nghĩa. Ta cùng tìm hiểu thêm về Gorgias
1. Không có cái gì hiện hữu [rien n' existe]
Gorgias chứng minh luận đề này bằng khá nhiều lý chứng:
* Nếu có cái "không-hiện-hữu"
Nếu nói rằng có cái "không-hiện hữu", thì cái không hiện hữu lại hiện hữu; và cái hiện hữu lại không hiện hữu. Đó là những mệnh đề nghịch lý. Hơn nữa, nếu có cái "không-hiện-hữu", thì tất nhiên không có cái gì hiện hữu; và như thế, cả hai mệnh đề đều đưa đến khẳng định là không có gì hiện hữu cả.
Rồi nếu có khái niệm "không-hiện-hữu", thì nhất đinh phải có khái niệm đối lập là "hiện hữu". Như thế cũng phi lý, vì vừa có cái "hiện-hữu", lại vừa có cái "không-hiện-hữu".
* Nếu có cái "hiện hữu"
Mặt khác, nếu có cái "hiện hữu", nó phải là vĩnh cửu. Nhưng một điều gì hiện hữu được thì nó phải xuất hiện, mà xuất hiện thì tất nhiên phải có khởi đầu, đã có khởi đầu thì không thể là một hiện hữu vĩnh cửu được. Ngược lại, nếu như cái "không-hiện-hữu" lại hiện hữu vĩnh viễn thì chẳng có cái gì tồn tại cả.
* Nếu có cái gì hiện hữu vĩnh viễn
Hơn nữa, nếu có cái gì hiện hữu vĩnh cửu thì nó cũng vô hạn. Mà một cái gì đó đã là vô hạn thì nó không thể hiện hữu, hoặc trong chính bản thân mình, hoặc trong cái khác.
Vì nếu hiện hữu trong bản thân, thì nó không thể là vô hạn; và nếu không hiện hữu trong bản thân thì nó cũng không thể thực sự hiện hữu và tính vô hạn của nó cũng biến mất.
Do đó, một cái gì đó không hiện hữu trong bản thân và cũng không hiện hữu trong cái khác thì nó không thể hiện hữu được. Như thế, phải kết luận là không có gì hiện hữu cả.
* Nếu có cái gì hiện hữu
Nếu có cái gì hiện hữu thì, thì nó phải hiện hữu dưới dạng "đơn nhất" hoặc "phức thể". Nếu hiện hữu là một cái gì "đơn nhất" thì phi lý; bởi vì hiện hữu bao giờ cũng phải là một trương độ; một trương độ thì luôn có thể phân chia được; mà đã phân chia được thì không phải là "đơn nhất" nữa.
Nếu hiện hữu dưới dạng "phức thể" thì có nghĩa là hiện hữu bao gồm nhiều cái đơn nhất. Nhưng thực sự không có cái đơn nhất. Như thế, thực sự chẳng có hiện hữu đơn nhất hay phức thể.
* Nếu vừa có cái "hiện hữu", vừa có cái "không-hiện-hữu"
Nếu một cái gì vừa hiện hữu vừa không hiện hữu, thì hoặc là "hiện hữu" và "không hiện hữu" lại đồng nhất với nhau; như thế thi hiện hữu cũng đồng nhất với không hiện hữu.
Còn nếu hiện hữu và không hiện hữu không đồng nhất với nhau, thì chúng phải loại trừ nhau. Như thế, thực sự không thể có cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu.
* Không có gì cả
Không có gì hết, vì hữu thể và hư vô đều không phải là đối tượng của cảm gíác; và vì thế, cũng không có tương quan giữa hữu thể và hư vô. Nói khác, theo định nghĩa, hữu thể chỉ được quan niệm như một bản thể làm nền tảng hay tiềm ẩn dưới những bào ảnh. Nhưng đó là một danh từ suông, vì không bao giờ có một thực tại hay hữu thể theo quan niệm ấy.
Hư vô, theo định nghĩa, lại là một cái gì không có; vậy làm sao nó có thể là đối tượng cho tri thức cảm giác được.
Như thế Gorgias đã cố công để phá hủy bức thành đồng của phái Élée; vì phá hủy nền tảng hữu thể thì cũng là phá hủy mọi sự.
2. Nếu có sự gì thì cũng không thể nhận thức được
Để củng cố thêm cho lý luận phá hủy hữu thể của mình ông còn đặt thêm một hàng rào vững chắc nữa : phá hủy khả năng nhận thức.
Phản đối lại Parménide cho rằng muốn suy tư thì đối tượng phải có thật, Gorgias cho rằng, nếu như thế, thì tất cả những gì suy tư đều phải có thực: nếu tôi nghĩ rằng trên mặt biển có một cuộc chạy đua chiến xa thì cuộc chạy đua ấy phải có thực, như thế là phi lý. Do vậy, ông cho rằng hiện hữu không phải là đối tượng của suy tư; người ta có thể suy tư mà không cần đối tượng phải hiện hữu thật; người ta có thể tưởng tượng ra và suy tư về một sự việc hoang đường, thần bí.
Từ đó, Gorgias đi tới kết luận : suy tư không cần có đối tượng; và hiện hữu không phải là đối tượng của suy tư. Như thế, hiện hữu cũng không phải là điều có thể nhận thức được; hay những gì suy tư đều không hiện hữu. Hay nói cách khác, nếu như có cái gì xuất hiện trước giác quan đi nữa, thì biết những điều ấy cũng chưa phải là biết theo tri thức được.
3. Nếu nhận thức được sự gì thì cũng không thể diễn tả được
Cuối cùng, Gorgias bủa thêm một vòng vây thức ba để phá hủy sự tồn tại của chân lý khách quan.
Ông cho rằng mầu sắc được nhận thức bằng thị giác, âm thanh được nhận thức bằng thính giác; nhưng để diễn tả mầu sắc, âm thanh, người ta lại phải dùng lời nói. Như thế, thực sự lời nói không thể diễn tả chính xác được nhận thức của các giác quan. Lời nói thì đa nghĩa và đa nghĩa thì đối nghịch nhau và phản bội lại tư tưởng, vì tư tưởng thiết yếu là nhất nghĩa.
Như thế, người ta thấy, qua những mệnh đề của Gorgias, một thứ hư vô nghĩa lần đầu tiên được trình bầy trong lịch sử triết học tây phương. Học thuyết của Gorgias phá hủy nền tảng hữu thể, phá hủy mọi tri thức, và phủ nhận mọi chân lý khách quan.
Tuy nhiên, những phê bình đối với Gorgias có thể chỉ là đấm vào không khí, vì khi ông đưa ra tất cả những chứng 1ý trên, thì không hẳn là ông tin vào những điều đó.
II/ SỨC MẠNH CỦA LOGOS
Người ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy Gorgias, một đàng, trong tác phẩm Peri Physeôs [Sur le Non-Être], thổi lên một tinh thần hoài nghi và hư vô chủ nghĩa; đàng khác, trong tác phẩm "Éloge d' Hélène", ông lại bày tỏ một niềm xác tín vào sức mạnh của Logos. Điều này khiến người ta không thể không tự hỏi rằng tác phẩm Peri Physeôs có phải là chủ trương đích thực của Gorgias hay chỉ là một bài thực tập phương pháp biện chứng ? hoặc có thể là một trò chơi ? Đó có phải là lý thuyết của ông về hữu thể, nhưng chỉ là một phương cách thực hành của Lời ?
Trong tác phẩm "Éloge d' Hélène", Gorgias tìm cách biện minh cho việc làm của Hélène bằng cách nại đến sức mạnh vĩ đại của Logos. Ông cho rằng Hélène chỉ làm điều, mà chúng ta đã biết, vì 4 lý do sau đây :
- Hoặc do ý muốn của thần số mệnh, những quyết nghị của các thần, hoặc do sự định đoạt của thần Nécessité;
- Hoặc do bức bách của sức mạnh;
- Hoặc do xác tín vào Logos;
- Hoặc do bị tình yêu thúc đẩy.
Trong bất kỳ trường hợp nào, nàng Hélène đều không có tội. Người ta thấy rằng Gorgias quan niệm Logos có một sức mạnh giống như quyền lực của thần thánh; hoặc một thứ quyền lực của tình yêu hay của bạo lực. Ông nói : Như thế, nếu Logos là điều đã xâm chiếm Hélène và đánh lừa tâm hồn nàng, thì ta có thể dễ dàng bảo vệ nàng khỏi bị kết tội, bởi vì : Logos là một sức mạnh lớn lao, Logos có một thân thể nhỏ bé và khó nhìn thấy, nhưng lại làm được những công trình thực sự của thần thánh.
Ông cũng so sánh sức mạnh của Logos với tác dụng những khám phá y học và những công thức toán học vốn phổ biến trong quê hương ông : mối liên hệ giữa sức mạnh của Logos với sự điều khiển linh hồn cũng giống như mối liên hệ giữa toa thuốc và thể chất của thân xác.
KẾT
Proragoras và Gorgias đều là học trò của Empédocle, nhưng mỗi người lại có quan điểm khác nhau về lý luận nhận thức. Protagoras cho rằng "mọi ý kiến đều chân thực" [toute opinion est vrai]; còn Gorgias thì, ngược lại, cho rằng "mọi ý kiến đền sai lầm" [toute opinion est fausse].
Tuy nhiên, chính sự khác biệt ấy lại cho thấy rõ rệt hơn chủ trương và nhất là hậu quả của chủ trương ngụy biện nhiều hơn. Bởi vì, tuy khác nhau, cả hai người, cũng như tất cả các triết gia ngụy biện khác đều giống nhau ở chỗ, trong hoàn cảnh lịch sử của Athènes, góp phần làm hư hoại tinh thần của thanh niên; và nhất là, trong tiến trinh lịch sử Hy Lạp, góp phần đưa đến một nền triết học mang tính chất Socrate.
* Gorgias đã gắn bó số mệnh của mình với Lời, số mệnh cho phép ông, khi qua đời [vào giữa những năm 380-370] để di tặng cho hậu duệ, giữa những kho tàng của Delphes, bức tượng của ông bằng vàng khối.
Những lý luận của Gorgias quả thực là khó chịu, nó vừa có vẻ sai lạc lại vừa có một sự liên kết chặt chẽ mà không dễ gì phá đổ đựơc. Người ta coi những nhà ngụy biện là những người chuyên lừa bịp. Nhưng Gorgias cho rằng việc lừa này cũng giống như vở kịch diễn trên sân khấu đã đánh lừa khán giả, làm cho họ tưởng như đó là chuyện thật trong cuộc sống. Khán giả bị lừa, điều đó nói lên sức hấp dẫn của ngôn từ, của nghệ thuật hùng biện, của nghệ thuật tu từ. Ngôn ngữ hùng biện đã đem lại cho họ nhiều khoái cảm.
Những đó là cái lừa thông minh. Đáng chú ý là người ta nhận xét rằng người đi lừa thì hình như chân thật hơn, thông minh minh hơn, sáng suốt hơn người bị lừa.
Chú thích
[1] Tuy nhiên, có lẽ ông học ở Empédocle về khoa học tự nhiên nhiều hơn là triết học.