Bài 19: Protagoras d'Abdère - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Protagoras người Abdère vốn là phu khuân vác, được Démocrite chọn làm môn đệ khi thấy ông đang khuân vác những bó củi một cách thông minh. Ông định cư ở Thyrium [Sicile] và là nhà lập pháp tại đây. Protagoras sống ở Athènes vào khoảng giữa thế kỷ thứ V tcn, lớn hơn socrate khoảng 25 tuổi, và là bạn của Périclès.
* Trường Phái Ngụy Biện
19
PROTAGORAS D' ABDÈRE
{Khoảng 480-410}
I. CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM
Protagoras người Abdère vốn là phu khuân vác, được Démocrite chọn làm môn đệ khi thấy ông đang khuân vác những bó củi một cách thông minh. Ông định cư ở Thyrium [Sicile] và là nhà lập pháp tại đây. Protagoras sống ở Athènes vào khoảng giữa thế kỷ thứ V tcn, lớn hơn socrate khoảng 25 tuổi, và là bạn của Périclès.
Ông là một chuyên viên trong hầu hết tất cà mọi bộ môn nghệ thuật : giáo dục, văn phạm, luận lý, luân lý, chính trị và hùng biện. Protagoras nghiên cứu về ngữ pháp, phân loại danh từ và sắp xếp các kiểu câu văn. Có thể nói, Protagoras đã đặt nền móng cho môn ngữ pháp.
Năm 411, Protagoras bị kết án do những tư tưởng về thần thánh của mình; ông bị đuổi khỏi Athènes và sách của ông bị đốt ở công trường.
Những tác phẩm chính của Protagoras là:
La Vérité, sur Être, Réfutation, la Grand Discours, Traité des Dieux, Contradictions, Du Gouvernement, De l' Ambiton, Des Vertus, De la Constitution.
Những mảnh văn còn giữ lại cho chúng ta qua Platon, Aristote, Diogène Laerce, Sextus Empiricus, được tập trung lại trong tác phẩm của Ritter-Preller [trang 177-182].
Tác phẩm quan trọng nhất của ông có lẽ là cuốn sách mà Socrate, trong cuốn Théétète của Platon, đã gọi là "Chân lý"; và một tác phẩm khác mà Sextus Empiricus gọi là "những luận chứng đảo ngược" [Arguments renversants].
II. TƯ TƯỞNG
1. Nét căn bản
Như chúng ta đã thấy, các nhà ngụy biện, nói chung, không đồng ý với với các lập trường triết học về vũ trụ; họ cho rằng những điều các triết gia vũ trụ luận chủ trương luôn đối nghịch nhau. Từ đó, nhóm ngụy biện muốn quay về với con người để tìm ra những tiêu chuẩn chính xác của tri thức đích thực. Do đó, trước hết, chúng ta có thể thấy tinh thần “nhân bản” của chung mọi tríết gia ngụy biện, trong đó, Protagoras có một vị thế đặc biệt quan trọng.
Với Protagoras, như phần đông các tríết gia Hy Lạp, ông chủ trương người ta không thể suy nghĩ về điều gì không hiện hữu [1]. Hơn nữa, Protagoras lại chấp nhận đường lối suy tư của phái Élée, theo đó hữu thể và tư tưởng đồng nhất với nhau. Cuối cùng, điều đặc biệt của Protagoras là : chủ trương đồng nhất nhận thức với cảm giác [lập trường duy cảm].
Lập trường triết lý ấy thường được lịch sử tóm lược vào trong câu nói nổi tiếng trong sáng tác nhan đề "Chân Lý" : "L' homme est la mesure de toutes choses, lui seul détermine l' être de ce qui est, et le non-être de ce qui n' est pas".
Con người là thước đo của vạn vật; chỉ duy con người có quyền quyết định điều gì có là có; điều gì không-có là không
Đây là một mệnh đề quá táo bạo và cũng khá hàm hồ. Lịch sử triết học đã có nhiều giải thích khác nhau về câu nói này, hoặc như một thứ chủ quan luận, hoặc như một thứ nhân bản luận, hoặc như một thứ tương đối luận.
2. Nhận thức luận
Protagoras phủ nhận vai trò của lý tính trong lãnh vực này; ông cho rằng nguồn gốc của mọi tri thức là cảm giác. Ông biết rõ và công nhận rằng nhận thức giác quan thiết yếu mang tính chất hay đổi thay và luôn bao gồm những tính chất trái ngược nhau. Ông thí dụ : cùng một làn gió thổi, có người cảm thấy mát, có cảm thấy lạnh, lại có người thấy rét run. Một thí dụ khác : cùng đi dưới trời mưa trong một ngày lạnh, người chạy dưới mưa thì cảm thấy nước mưa ấm, còn người vừa trong phòng ấm đi ra thì cảm thấy nước mưa lạnh.
Nhưng ông cho rằng nhận thức của giác quan luôn luôn có giá trị; vì cảm giác luôn luôn là cảm giác thật về một sự vật hiện hữu. Do đó, ta không thể nói rằng cảm giác này đúng hơn cảm giác kia, mà chỉ có thể nói rằng cảm giác này tốt hơn cảm giác kia; bởi vì mọi cảm giác, trong hiện tại của chúng, luôn luôn là đúng và thật. Từ đó, theo Platon diễn tả trong Théétète, câu nói của Protagoras “con người là thước đo của vạn vật”, có nghĩa là : mỗi sự vật là nó như xuất hiện cho mỗi con người, cho tôi cũng như cho anh. Mỗi người chúng ta, tôi và anh, đều là thước đo của tất cả những gì hiện hữu và của những gì không hiện hữu [2].
Do đó, vẫn theo Platon, Protagoras muốn tìm thấy trong cảm giác [chủ quan] một tính chất khách quan tuyệt đối [objectivisme le plus radical], chứ không cho rằng chúng bị giác quan đánh lừa. Trong cuốn Théétète, Platon giải thích công thức của Protagoras như sau :
Theo Protagoras, những sự vật xuất hiện ra với tôi thì thích hợp cho riêng tôi; chúng xuất hiện ra với anh thì thích hợp cho riêng anh. Cùng một luồng gió thổi hai người, nhưng gió chỉ lạnh cho người lạnh, mà không lạnh cho người không lạnh. Như thế, sự vật xuất hiện với mỗi người chúng ta tùy theo với mỗi người. [3]
Như vậy, với Protagoras, người ta bắt đầu hiểu ra rằng tri thức không hoàn toàn lệ thuộc vào sự vật khách quan bên ngoài; tất cả mọi tri giác được đều giả thiết có người cảm giác và cái bị cảm giác. Gió mát hay lạnh, nước lạnh hay ấm đều phụ thuộc vào giác quan của mỗi người. Mật có thể vừa ngọt vừa đắng; vì đối với người mạnh khỏe thì mật đem lại cảm giác ngọt, còn đối với người bệnh thì mật lại làm trở nên đắng... Với Protagoras, chân lý phụ thuộc vào chủ thể nhận thức. Có thể nói rằng Protagoras là người đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của chủ tri [chủ quan luận], đồng thời cũng là người đầu tiên đặt vấn đề tri thức luận.
3. Hữu thể luận
Nhưng bởi vì tất cả nguồn gốc của tri thức chỉ là giác quan, cho nên, từ khởi điểm nhận thức luận dựa vào cảm giác, Protagoras buộc lòng phải đi đến khẳng định về hữu thể luận theo những tiêu chuẩn của giác quan. Ông khẳng định rằng: "cảm giác thế nào thì sự vật tồn tại như thế". Ông cho rằng các sự vật, trong thực tế, chính là điều chúng xuất hiện ra cho mọi người. Sự vật là hữu thể được nhận thức do giác quan; là cái được cảm nhận bị qui định bởi chủ thể cảm nhận. Do đó, người ta có thể nói rằng không có sự vật nào là thế này hay thế kia, và cũng không thể nói cách tuyệt đối rằng vật nào hiện hữu hay không hiện hữu; mà chỉ có thể nói như Héraclite rằng chúng trở nên điều này hay điều kia [4].
Tóm lại, với Protagoras, không có gì hiện hữu tự nội; sự vật không có yếu tính tự nội và không có một thứ chân lý khách quan bên ngoài chủ thể cảm giác. Chân lý hữu thể phụ thuộc vào chân lý nhận thức; và chân lý nhận thức lệ thuộc vào chân lý cảm giác.
Như thế, giống như Héraclite va Anaxagore, Protagoras chủ trương hữu thể, tự nó, có tính chất thay đổi và đối nghịch nhau. Trong tất cả mọi vật, những tính chất trái ngược nhau đều cùng hiện hữu. Trong cuốn Théétète, Platon thuật lại rằng Protagoras nói : không có điều gì, hoặc tự mình, hoặc do mình, là đơn nhất cả. Hoặc nói cách khác, trong tất cả mọi vật, luôn có hai logos đối lập nhau, đó là "anti-logia" [antilogia]. Với dữ kiện cụ thể : mật ong đối với người này thì đắng, với người khác lại ngọt, lập trường của Démocrite đi đến kết luận rằng mật ong không ngọt cũng không đắng; còn lập trường của Héraclite lại đưa đến kết luận mật vừa ngọt vừa đắng [5]. Protagoras chấp nhận lập trường của Héraclite, vì cảm giác đắng hay ngọt đều là thật, và nó cho biết mật cũng có thật những đặc tính như thế. Từ đó, ta có thể thiết lập một lô những mệnh đề đối lập nhau trong mỗi sự vật; sự vật vừa tốt vừa dở, vừa xấu, vừa đẹp, vừa công chính vừa bất công..., và đó là những giá trị thật trong lòng thực tại.
Một cách nào đó, với Protagoras, chúng ta thấy lần đầu tiên trong lịch sử triết học Tây Phương, một chủ trương rõ ràng về nguyên tắc đa thể và đơn thể cùng hiện diện một lúc; và đó cũng là nguyên tắc về tính tương đối phồ quát của mỗi tính chất riêng biệt cũng như của tri thức. Hơn nữa, điều độc đáo của Protagoras là ông đã tìm ra chân lý ấy từ chính kinh nghiệm cụ thể hằng ngày, bằng kinh nghiệm của giác quan.
4. Khôn ngoan thực hành
Lập trường của Protagoras đã hóa giải được những khắc biệt, và cả những mẫu thuẫn, trong các trường phái triết học khác nhau của những người đi trước. Đặc biệt hơn nữa, lập trường “ba phải” ấy không dừng lại ở mức độ tiêu cực, phá hủy hoặc đưa đến một sự hoài nghi; lập trướng ấy mở đường cho một sự khôn ngoan khác, khôn ngoan thực hành, sự khôn ngoan mà, một cách nào đó, ta có thể gọi được là sự khôn ngoan của con người như một chủ nhân ông của vũ trụ.
Khi vũ trụ không còn có quyền đòi buộc con người phải công nhận chúng là này hay thế kia; thì chính con người nắm quyền xác định thế giới theo cách nào tốt nhất cho mình.
Theo platon, chính Protagoras là người đầu tiên đã có ý tưởng tự gọi mình là sophisths [] nghĩa là người chuyên môn và là giáo sư dạy sophia. Ông cho rằng nhiệm vụ của triết gia cũng giống như nhiệm vụ của người chủ ruộng đất chăm sóc cây trồng, hay như nhiệm vụ của người thầy thuốc điều trị. Cần làm sao để có được hiệu năng thực tế; bởi vì, về phương diện lý thuyết, thì mọi chân lý đều tương đối; còn trong cuộc sống, theo Protagoras, cái “đúng” là cái mang lại lợi ích và cái “sai” là cái mang đến điều nguy hại.
Như thế, Sự khôn ngoan ấy không còn dựa vào những tiêu chuẩn khách quan trường tồn nào, những tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi vấn đề và mỗi con người. Protagoras nói "tôi không đi tìm những người khôn ngoan giữa những con nhái"; ông cho rằng, về vấn đề cây cối, thì người khôn ngoan là những nhà nông; về vấn đề sức khoẻ, đó là các y sĩ. Đặc biệt, về sinh hoạt trong thành phố, người khôn ngoan, đó là những nhà hùng biện, những người biết “định bệnh” của xã hội, cung cấp cho người ta những ý kiến mang lại lợi ích thực tế cho cuộc sống và biết cách thay đổi tình thế, biết thay thế một tình trạng nguy hại trở thành tình trạng lành mạnh.
Nếu bệnh nhân thấy mật ong là xấu ? Y sĩ sẽ thật sự là người khôn ngoan, nếu như ông ta làm cho bênh nhân thích mật ong. Nếu một đứa trẻ mất dạy thấy một luật lệ là xấu, người giáo dục khôn ngoan phải giúp nó nhận ra được luật lệ ấy là tốt. Khi dân trong một thành phố cho rằng một biện pháp luật lệ nào là tốt cho mình, nhà chính trị khôn ngoan là người đủ quyền để thay đổi ý kiến công luận và làm cho người ta thấy luật đó là xấu [6]. “Khôn ngoan” chính là cách thức hành động có thể thay đổi nhận thức của con người.
Chúng ta nhận thấy rằng Protagoras muốn dùng “nền tảng lý thuyết” duy lợi ích, một sự lợi ích cho mỗi người theo mỗi hoàn cảnh riêng biệt, để biện minh cho nghề dạy hùng biện của mình; nhưng ông tỏ lung túng và nỗ lực ấy khó thuyết phục người đọc. Khi cho rằng sự vật không có bản chất khách quan và cố định, ông đã có thể biện minh cho bộ môn hùng biện, xét như là một nghệ thuật có thể “nay nói thế này, mai nói thế khác”. Nhưng luận chứng ấy, thực ra, cũng phá hủy chính giá trị của bộ môn ấy rồi. Nếu không có một chân lý khách quan, tốt nhất là cứ để mỗi người tự tìm thấy giải đáp cho mình theo cảm quan của mình. Nếu không có chân lý khách quan, tất cả nội dung của các diễn từ hùng biện đều là vô nghĩa, và môn hùng biện càng lộ rõ là một phương thế lừa đảo mà thôi. Chính vì thế, khi nhận xét về chân lý của Protagoras, Platon cho rằng nó không đúng cho bất cứ ai, không đúng cho người khác cũng như không đúng cho chính mình [7]. Rồi trong cuốn Les Lois [8], Platon đắc thắng khẳng định: không phải con người, nhưng đúng hơn Thiên Chúa mới là thước đo của tất cả mọi sự cho chúng ta.
Hơn nữa, khi cho rằng môn hùng biện là khôn ngoan vì có thể thay đổi lòng người, hình như ông lại giả định có một thứ bản chất tự nhiên của vạn vật. Protagoras còn kể lại huyền thoại Prométhée và Épiméthée : Epimétée đã phân phát tất cả vũ khí tự vệ cho các sinh vật, và không còn lại gì cho con người; con người sắp bị tiêu diệt vì không có phương tiện tự nhiên để bảo vệ; khi đó, Zeus muốn con người có vũ khí để tự vệ, nên ban cho bản chất con người hai đức tính là sự công chính và hổ thẹn [9]. Như thế, Protagoras mặc nhiên cho rằng có một sự công chinh theo tự nhiên [10]. Thế mà, theo ông, sự công chính chỉ có nghĩa là điều xuất hiện cho tôi như công chính; và trong thiên nhiên thì chẳng hề có sự phân biệt giữa người công chính và người không công chính.
5. Tầm mức của chủ trương “chủ thể luận”
5.1/ Tương Đối Luận
Tác cuốn tự điển Encyclopédie Universelle [11] cho rằng cách hiểu chủ trương của Protagoras như một lập trường “chủ thể luận”, theo như thuyết chủ quan hiện đại, là không đúng, ngay cả khi hạn từ “con người” trong câu “con người là thước đo của vạn vật” được hiểu như mỗi cá nhân, anh hay tôi, đi nữa. Đúng hơn ý tưởng thực sự của Protagoras là con người phải tự giới hạn trong những gì mình đã nhận được. Nhờ biết tự giới hạn như vậy, con người nhìn nhận rằng mình không được quyền quyết định về chân lý của các sự vật không thuộc về mình; đối với các sự vật vượt quá giới hạn của mình, thì con người lại càng không thể quyết định được. Chính vì vậy, trong tác phẩm "Bàn về Thần", ta đọc thấy một câu ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa của Protagoras:
Còn đối với thần thánh, ta không thể biết được họ có hay không có; vì đối với vấn đề, ta gặp quá nhiều chướng ngại vật, một là vấn đề quá khúc mắc, hai là đời sống quá vắn vỏi. [12]
Có lẽ đây là thái độ “tự giới hạn” [modération], một nét tinh thần vốn có trong dân tộc Hy Lạp [13]. Nhưng ở đây, tinh thần ấy được diễn tả trong một chủ trương “phi tôn giáo”, và dĩ nhiên nhằm để mở đường cho vị thế của con người. Chính vì chủ trương như thế mà Protagoras mới bị kết án. Do đó, lập trường “tương đối luận” của ông chẳng những không chống lại “chủ quan luận”, nhưng còn là điều liên kết mật thiết với chủ trương này. Dĩ nhiên, chúng ta cũng biết rằng đó không phải hoàn toàn là một thứ chủ quan luận theo nghĩa triết học hiện đại, vì lập trường này chỉ thự sự bắt đầu với Descartes mà thôi.
5.2 Nhân Bản Luận
Cũng vậy, lập trường chủ thể luận của Protagoras, trong một mức nào đó, còn mang ý nghĩa nhân bản luận nữa. D' Aster nhận xét như sau :
Con người là thước đo vạn vật - theo một nghĩa rộng rãi hơn - câu nói ấy là đặc tính của ngụy luận thuyết và cho tất cả thời đại bắt đầu với nó. Con người và diễn tiến của cuộc đời không còn xuất hiện dưới sự lệ thuộc một định mệnh siêu việt, một ý muốn thần thánh, hay những tiềm lực nội tại của thiên nhiên, mà lệ thuộc chính con người. Họ sẽ là điều mà tính tình của họ, những khả năng của họ, ý chí của họ, những kiến thức và lối sống của họ tạo nên. Sự thành công và hạnh phúc của họ sẽ xuất phát từ đó. Trong kịch nghệ của Hy lạp, với nhưng bi kịch về tính tình, Euripide đã không xa với các ngụy luận gia; những bi kịch ấy đã đưa Euripide đứng ngang hàng với những nhà siêu hình học thời danh về thi ca nhạc kịch như Eschyle và Sophocle trong văn hóa Hy Lạp; không phải là những mối tương quan giữa con người với số phận, với các thần thánh, với yếu tính của sự vật; [nhưng] chính mối tương quan với đồng loại và với xã hội mới thực sự làm nên vấn đề quan trọng. [14]
Quả thật, với Protagoras, con người đã dành lại được một phần, ít nhất là trong thực hành, quyền quyết định về vận mạng của mình; con người không còn lệ thuộc hoàn toàn vào thần thánh hay bị khuất phục trước định mệnh nữa. Con người có một lãnh vực còn cần thiết hơn, quan trọng hơn và nằm trong trách nhiệm của mình, đó là phải chú trọng đến những gì thuộc con người mà thôi.
5.3 Xã Hội
Ngoài ra, khi học thuyết của Protagoras lấy lại quyền quyết định từ tay thần thánh, thì vị trí của con người trong xã hội lại được đề cao. Xã hội là môi trường cụ thể và “hiện sinh” mà con người mang sống; với xã hội ấy, con người phải tôn trọng và trong xã hội đó, con người tìm thấy “luật pháp” hướng dẫn cuộc sống của mình. Platon cho thấy, Hippias, một ngụy luận gia, coi tất cả mọi người là "những bà con thân thích và đồng bào theo bản tính, nếu không thì cũng là theo pháp luật" [15].
Mặt khác, khi Protagoras nói rằng thần Zeus đã cứu nhân loại bằng cách ban cho con người hai đức tính : công bằng và hổ thẹn, chúng ta thấy đó chính là những đức tính của đời sống xã hội; chúng giúp con người kiến thiết những đô thị và truyền chủng bằng cách tương trợ lẫn nhau [16].
Protagoras nhìn nhận một trật tự xã hội làm qui luật sống cho loài người. Theo ông, giá trị của con người là ở giây liên lạc đoàn kết loài người với nhau và đem lại khả năng làm chính trị. Cái nâng cao con người lên trên các sinh vật chính là lề luật và thể chế xã hội [17].
KẾT
1. Protagoras khéo léo đưa thực tại vào suy tư, rồi lại đưa cả thực tại lẫn suy tư ấy vào trong nhận thức giác quan. Rồi chính từ những tính chất của giác quan, Protagoras khám phá ra những tính chất của thực tại, cũng như những đức tính “luân lý” của đời sống con người. Một lối suy diễn như thế tỏ ra quá táo bạo; nó đòi hỏi phải vượt qua những hố thẳm, hố thẳm từ th5ưc tại iên suy tư, hố thẳm từ suy tư đến cảm giác, hố thẳm từ cảm giác đến đời sống “luân lý”.
Thực sự những lý luận của Protagoras chưa đưa được độc giả vượt qua được những hố thẳm ấy. Tuy nhiên, bằng một đường lối khác, Protagoras lại có một trực giác quá độc đáo, trực giác về vai trò của con người. Trực giác ấy cò một sức hút mạnh mẽ khiến lịch sử triết học tỏ bị mê hoặc mà không cần phải tìm đủ lý lẽ. Chính vì thế, dù cho lập trường nguyên thủy của Protagoras có giới hạn trong riêng một ý nghĩa nào; thì những tranh luận, những lối hiểu về ông trong dòng lịch sử, tự nó, cũng đã là “lịch sử” và để lại những ảnh hưởng của nó.
Dù thế nào đi nữa, người ta cũng phải nhìn nhận rằng lập trường của Protagoras là một chủ trương nhân bản rất sớm và rất đẹp trong lịch sử triết học tây phương.
Chú thích
[1] Theo tường thuật của Platon trong Théétète 167 A; Xc. J. Chevalier,Sđd, trang129.
[2] Théétète 166 DS; trích lại trong J. Chevalier, Sd, trang 130-131.
[3] Théétète 152 a - e.; trich lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 306-307.
[4] Theo tường thuật của Platon trong Théét. 152 D; Xc.J. Chevalier, Sđd trang 129-130.
[5] Theo Sextus Empiricus, Esquisses pyrrhoniennes, II, 63; trích lại trong P.B. Grenet, Sd, trang 59.
[6] Những điều này được thuật lại theo Théétète của Platon.
[7] Xc. Théétète 171 C.
[8] IV, 715 E.
[9] Theo chốn Protagoras của Platon.
[10] Xc. Grenet, Sđd,trang 60.
[11] Ency.Univ. IV, Philosophie, Marabout,.... trang 434-435.
[12] Diog. Laerce, IX, 51; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, tr. 308.
[13] Xc. Phần Dẫn Nhập, về đóng góp của người Hy Lạp.
[14] Trích lại trong D' Aster, Sđd, p. 63.
[15] Protagoras, 337 c.; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 309.
[16] Protagoras, 330 c - 3232; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 309.
[17] Protagoras, 320 c - 323e; trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 309.
Bài 20: Gorgias de Léontini >>