Bài 17: Démocrite d' Abdère - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Démocrite, sinh ở Abdère, con của Damasippos, là người cùng thời với Socrate. Có lẽ ông đã thụ huấn với các tư tế Ai Cập và các nhà thiên văn học của Babylon. Người ta cũng nghĩ rằng ông có liên hệ với giới trí thức Âu Châu, Phi Châu và Đông Phương. Hình như có học với Zénon; nhưng người thầy đích thực của ông là Leucippe.

17

DÉMOCRITE D’ ABDÈRE

{Khoảng 520-440} 460-360]

I. TIỂU SỬ

Démocrite, sinh ở Abdère, con của Damasippos, là người cùng thời với Socrate. Có lẽ ông đã thụ huấn với các tư tế Ai Cập và các nhà thiên văn học của Babylon. Người ta cũng nghĩ rằng ông có liên hệ với giới trí thức Âu Châu, Phi Châu và Đông Phương. Hình như có học với Zénon; nhưng người thầy đích thực của ông là Leucippe.

Giống như Aristote, Démocrite có một vốn kiến thức uyên bác về nhiều vấn đề. Ông đề cập đến : trật tự vũ trụ, thiên nhiên, các tinh tú, loài người, tinh thần, những cảm nghiệm của giác quan, mầu sắc, những hình thức khác nhau của nguyên tử, những quy luật tư tưởng, những đường thẳng và những đường bất liên tục, những con số, những nhịp điệu, hòa âm, thi ca, kiến thức y khoa, kiến thức hội họa, kỹ thuật, thái độ sống của nhà hiền triết, sự sống sau khi chết...

II. TÁC PHẨM

Bổ túc cuốn Grande Diakosmos, có lẽ của Leucippe, Démocrite viết : tác phẩm Petit Diakosmos và Éthiques.

III. HỌC THUYẾT

1. Thực tại hay hữu thể là các nguyên tử

Cũng như Leucippe, lập trường của Démocrite là vừa chấp nhận những nguyên tắc hữu thể duy nhất của phái Élée, nhưng dung hòa với kinh nghiệm giác quan về sự biến đổi của thế giới; và phương cách của Démocrite là, thay vì một hữu thể duy nhất, tròn đầy, bất động, của phái Élée, ông chủ trương vũ trụ được cấu tạo bằng những hạt bất khả phân chia. Mỗi hạt nguyên tử này mang những tính chất một bản thể trọn vẹn và chuyển động không ngừng. Người ta ghi nhận được một mẩu đối thoại với Zénon, trong đó Démocrite, dưới tên Leucippe, muốn sửa đổi học thuyết Elée, như sau:

Zénon nói: "không có hữu thể hay thực tại đa tạp, vì như thế là có sự phân chia vô hạn, mà nếu có phân chia vô hạn thì không còn thực tại."

"Leucippe" trả lời : không có sự phân chia vô hạn, mà sự phân chia chỉ dừng lại ở những hành chất sơ bản, trong đó mỗi hành chất là một bản thể hoàn toàn đầy đặn.

Démocrite muốn trả lời vấn đề biến dịch và trường tồn bằng học thuyết nguyên tử, theo đó, thực tại đích thực, nền tảng, hay hữu thể, chính là những nguyên tử. Nguyên tử hiện hữu một cách đơn thuần, nghĩa là không được cấu tạo do chất liệu nào khác nhưng chính chúng là nguyên khởi. Nguyên tử không thể bị phân chia, nên không thay đổi, và cũng không có sinh hay diệt; đó chính là những chất liệu căn bản, thường hằng của mọi thực tại. Có vô hạn các nguyên tử và chúng không có tính chất riêng, tất cả mọi nguyên tử đều đồng loại như nhau, chỉ khác nhau do vị thế, hình thể và độ lớn, cái thì hình lưỡi liềm, cái hình cầu, cái hình móc sắt... và có kích cỡ to nhỏ khác nhau.

Do những cách thế kết hợp khác nhau, các nguyên tử tạo nên vạn vật đa dạng, tạo nên những sự vật với những trạng thái khác nhau. Như thế, vũ trụ biến dịch chẳng qua chỉ là sự thay đổi về số lượng và vị trí của các nguyên tử. Ông cho rằng sự khác nhau về "phẩm", thật ra, chỉ xuất phát từ kinh nghiệm chủ quan, của cơ quan cảm giác và của chính chủ thể nhận thức mà thôi. Chính những cơ năng cảm giác đã tìm cách thông báo cho ta theo cách thức riêng của chúng, và do đó mà ta thấy ngọt, thấy đắng, thấy trắng hay thấy đen... Các nguyên tử không có tính chất riêng, nên vạn vật được cấu tạo từ những nguyên tử cũng không "phẩm tính" riêng. Lập trường này của Démocrite phát xuất từ chủ trương, giống Parménide, chấp nhận quan niệm hữu thể đồng nhất với nhau về phẩm tính.

2. Không gian trống rỗng

Cùng vớí các nguyên tử, vũ trụ còn có những quãng không gian trống rỗng; vì vũ trụ không phải là một khối dầy đăc và bất động, nhưng luôn thay đổi. Quãng không là điều kiện tất yếu để các nguyên tử có thể thay đổi vị trí và cách thức kết hợp với nhau; do đó, quãng không cũng là điều kiện tất yếu của biến dịch. Như thế, giống như Leucippe, Démocrite không phủ nhận hư vô. Ong cho rằng không có hư vô trong lòng hữu thể, nhưng cần có hư vô bên ngoài hữu thể để phân biệt các nguyên tử với nhau. Quãng không, Démocrite nói, "cái đó không phải chỉ là hư vô"; Không gian trống rỗng ấy một phần cần thiết trong vũ trụ.

3. Hình thành vũ trụ

Trong khi chuyển vận, các nguyên tử xô đẩy, đụng chạm, rồi bám vào nhau thành những vật thể. Những chuyển vận ấy giống như cơn lốc nguyên tử quay cuồng và hình thành nên thế giới. Ông cho rằng, trong không gian vô hạn, có muôn ngàn vũ trụ, có nhiều vũ trụ giống vũ trụ của ta, và có cái khác vũ trụ của ta.

Démocrite không cắt nghĩa về động lực vận hành; ông cho đó là điều tự nhiên, hoặc là do xung lực tiềm tàng trong nguyên tử. Ông chấp nhận như một điều hiển nhiên rằng : vận hành có từ đời đời. Hơn nữa, tất cả tiến trình vận hành, gồm cả việc sinh ra và hoạt động của linh hồn chỉ tuân theo một luật bất di bất dịch và đơn giản mang tính duy cơ của thiên nhiên mà thôi.

Ngoài nguyên tử và không gian chung quanh nguyên tử, không có sự gì khác nữa. Tất cả thực tại và hay hữu thể bao gồm các nguyên tử luôn chuyển động trong quãng không; đó là thực tại duy nhất, ngoài ra không có gì hiện hữu khác nữa.

4. Nhận thức

Démocrite còn cố gắng mang giải thích nguyên tử vào vấn đề nhận thức. Ông chủ trương rằng : sự nhận thức đòi hỏi rằng chủ thể tri thức phải giống hoặc đồng loại với sự vật được nhận biết”. Như thế, sở dĩ chúng ta có nhận thức được là nhờ vật thể phóng toả những hình ảnh của chúng [effluves], hoặc những giả tượng [simulacres] tác động vào các cơ năng cảm giác của chúng ta, đến với mắt và gây ra thị giác, thấu vào tai và gây ra thính giác.... Những giả tượng hay những phóng tỏa đó là những nguyên tử tác động một cách tinh tế. Chính những hình ảnh đã xâm nhập vào linh hồn nhận thức, đề làm cho linh hồn trở nên đồng nhất với vật thể được nhận thức [1].

Như thế, Démocrite hiểu tri thức theo nghĩa vật lý thuần túy. Nhận thức được giản lược vào giác quan; và nhận thức giác quan lại được giản lược vào việc tiếp nhận, nơi các cơ quan cảm giác, những hình ảnh phóng toả, hoặc những giả tượng phát xuất từ những vật thể chuyển động trong không khí. Tuy nhiên, lập trường ấy không có nghĩa là tri thức hoàn toàn là cảm giác. Démocrite phân biệt hai loại tri thức :

* Tri thức đich thực do căn cứ trên nền tảng của thực tại;

* Tri thức sai lạc vì căn cứ trên tính chất cảm giác.

Từ đó, ta cũng thấy ở nơi Démocrite một lập trường “tương đối luận”; theo đó, thực tại mà chúng ta nắm bắt được không hề tuyệt đối là thật, mà chỉ là những gì đến với giác quan chúng ta một cách tình cờ, tùy theo vị thế lúc đó của thân xác ta và theo cách thức những ảnh hưởng đụng đến ta.

Con người phải biết rằng họ còn xa với chân lý. Người ta sẽ thấy rõ ràng rằng thật là khó khăn để biết đích thực mỗi sự vật là gì. [2]

5. Thần Thánh và linh hồn

Một học thuyết duy cơ và duy vật như thế, dĩ nhiên, loại bỏ tất cả mọi thứ “thiêng liêng”, huyền nhiệm hay các hình thức tôn giáo. Theo Sextus Empiricus, Démocrite giải thích tôn giáo bắt nguồn từ chỗ người ta nhận thấy những điều huyền nhiệm vượt quá các lối giải thích tự nhiên như sấm chớp, nhật thực...; những điều ấy làm cho người ta sợ và nghĩ rằng thần thánh là nguyên nhân tạo nên những hiện tượng như thế. Ông cũng cho thấy những hiện tượng huyền nhiệm xuất hiện cho con người thường rất giới hạn, mập mờ, chẳng hạn : nhìn thấy trong đêm, trong giấc mơ... Tuy vậy, ông cho rằng những thái độ tôn giáo có thể có ích, việc cầu nguyện có thể là tốt xét như một ước vọng được đón nhận những điều may lành.

Linh hồn không phải là điều gì là huyền bí, linh thiêng; linh hồn cũng chỉ là tập hợp những nguyên tử, nhưng là những nguyên tử hết sức tinh tế [?] và rất linh hoạt, tròn như lửa. Chính việc hô hấp làm cho linh hồn [những nguyên tử] thấm nhập vào thân xác, phân phối cho mọi thành phần và làm cho thân xác sống động. Như thế, hiển nhiên là linh hồn không bất tử.

Một số người không biết rằng thiên nhiên khả tử bị phân rã, bởi vì họ ý thức mình đã làm điều xấu trong cuộc sống, họ sống thời gian hiện hữu của mình trong sự khiếp hãi và lo sợ, và họ tạo nên những huyền thoại sai lầm về quãng thời gian theo sau cái chết. [3]

6. Đạo đức

Tuy chủ trương duy vật và duy cơ, nhưng Démocrite không có cái nhìn "lạc quan quá khích" như chủ trương duy cơ của Descartes sau này, hoặc như những người vô thần của thời hiện đại. Mặt khác, lập trường luân lý của Démocrite, tuy giống với Héraclite, ở chỗ biểu lộ mối tương quan mật thiết giữa nhận thức và nỗ lực hoàn thành cuộc đời con người; tức là giữa siêu hình và luân lý, nhưng lại khác với Héraclite do thái độ vâng phục với một con tim hoan hỉ. Chính điều đó cho thấy nét đặc sắc riêng của Démocrite trong phương cách liên kết giữa lý thuyết duy cơ và luân lý.

Lập trường duy cơ và duy vật khiến Démocrite phải đưa mục tiêu tìm khoái lạc lên hàng đầu. Sự thiện là khoái lạc; sự ác là đau khổ. Tuy nhiên, để mang lại sự thiện hảo thực sự cho con người, theo Démocrite, khoái lạc phải là sự hoan hỉ dài và trường tồn. Con người không thể tìm thấy khoái lạc trong những sự mau qua, nhưng phải tìm hạnh phúc ở trong đáy sâu tâm hồn. Chỉ những điều tốt trong tâm hồn mới cho phép ta tham dự vào bản chất đích thực của vạn vật. Như thế, lập trường duy cơ và duy vật không đưa đến một thứ luân lý trác táng, thác loạn cách tầm thường.

Phải chăng, trong khi đưa ra một lập trường siêu hình hết sức "tiến bộ", lập trường vô thần, thì Démocrite vẫn không thoát khỏi được tâm thức chung, hay ít là tâm thức thời đại, về một nếp sống luân lý dựa trên tôn giáo, giống như điều J.P. Sartre đã phê bình các triết gia thời đại ánh sáng ? Hoặc chúng ta có áp dụng lập trường của E. Kant ở đây, theo đó, mệnh lệnh luân lý là mệnh lệnh tiên thiên của con người ?

Mặt khác, nền tảng luân ý của Démocrite bắt nguồn từ ý thức rằng con người không có cách nào ảnh hưởng, tác động trên tiến trình của thiên nhiên. Ý thức đó khiến cho chủ trương luân lý của ông đặt nặng vấn đề tôn trọng mức độ hiện hữu của tất mọi sự [euthymie], và tím đến thái độ “nhẫn nhục thiêng liêng" [résignation spirituelle]. Chúng ta phải vâng phục sự tất yếu của định luật vũ trụ với một con tim hoan hỉ. Thái độ luân lý đích thực là đi tìm hạnh phúc tối cao trong sự bình lặng và tự tìm thỏa mãn trong hoàn cảnh hiện tại. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào giá trị ấy. Từ đó, mới có truyền thuyết nói rằng : Démocrite luôn luôn cười; trong khi Héraclite, đứng trước nhưng cảnh tượng thay đổi không ngừng của sự vật, lại luôn luôn khóc.

Cuối cùng, trong tinh thần truyền thống của Hy Lạp, ông cho rằng nhân đức hoàn hảo nhất là minh triết, vì chỉ minh triết mới giúp ta phân biệt những sự thiện đích thực và sự thiện giả trá và là nguyên tắc để hành động đúng, hành động tốt.

IV. KẾT

Với chủ trương nguyên tử, Démocrite tự hào đã vượt qua được cả Parménide và Héraclite. Điều đó có phần đúng nhưng chắc chắn là không phải hoàn toàn đúng. Tuy vậy, lập trường nguyên tử và duy cơ của học phái Abdère thực sự là một thành tựu quan trọng của nền triết học trước Socrate. Tất cả nền tríết học Hy Lạp, cho đến lúc này, vẫn được giải thích trong “bàn tay” của thần thánh và đầy sức mạnh của tinh thần, nay được gạt bỏ hết để chỉ còn là một giải thích hoàn toàn duy vật.

Tuy nhiên, Démocrite chưa khám phá ra trật tự vô chất là đặc tính riêng biệt của tri thức [triết học kinh viện gọi đây là “trật tự ý hướng” [l’ ordre intentionele”,

bởi vì tuy vẫn tôn trọng hữu thể vật lý của chủ thể tri thức, trật tự này đưa chủ thể tri thức ra ngoài mình, đồng nhất chủ thể tri thức với đối tượng tri thức]

Chú thích

[1] Người ta ghi nhận rằng đây là những phác thảo, tuy còn mang tính chất vật chất, của lý thuyết “ấn ảnh” [espèces impresses] trong triết học kinh viện sau này.

[2] Trích lại trong P.B. Grenet, Sđd, trang 54.

[3] Trích lại trong P.B. Grenet, Sđd, trang 54.

Bài 18: Xã hội Athènes >>