Bài 11: Parménide d' Élée - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Người ta không biết gì nhiều về Parménide, chỉ có một vài chi tiết được cung cấp qua Platon, Diogène Laerce, Plutarque, Apolodore...;
11
PARMÉNIDE D' ÉLÉE
[khoảng 540-470]
* Bài này dựa theo Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 204-241
I. TIỂU SỬ
Người ta không biết gì nhiều về Parménide, chỉ có một vài chi tiết được cung cấp qua Platon, Diogène Laerce, Plutarque, Apolodore...; và những chi tiết này lại thường ngược nhau. Platon, trong cuốn Le Sophiste, có kể lại cuộc gặp gỡ giữa Parménide và thanh niên Socrate; người ta phỏng đoán cuộc gặp gỡ đó vào năm 450 và tính toán năm sinh của Parménide, ít nhất là 515 hay sớm hơn nữa.
Theo những dữ kiện đó, người ta biết ông là người đô thị Élée, Nam Ý; con của Pyrès; có lẽ đã theo học với ông già Xénophane và một ông thầy nào đó theo học thuyết Pythagore, tên là Aneinas.
Ông sống ở Élée cho đến năm 504 rồi sau đó, đến Athènes cùng với Zénon. Ở đây, ông ra sức chống lại triết lý của nhóm Ionie. Ông lưu tâm đến biện chứng và chính ông, người ta nói, đã tìm ra lý chứng về Achille "bất động trong khi chạy". Có lẽ ông là một người lập luật ở Élée, quê hương của ông, nơi đó, gia đình ông thuộc về tầng lớp quí phái, giầu và có nhiều uy thế.
II. TÁC PHẨM
Tác phẩm của Parménide là một bài thơ mang một cái tên phổ biến thời đó "Péri Phuseos" [Bàn về Thiên Nhiên], chúng ta chỉ có được khoảng 1/3 tác phẩm, tức khoảng 130 câu [1]. Những câu còn tìm thấy được hiện nay, phần lớn, nhờ Simplicius, người đã thừa hưởng thư viện Académie và đã đưa bài thơ của Parménide vào trong bộ chú giải của mình. Vào thời của Simplicius, có lẽ tác phẩm này đã hiếm lắm rồi.
Tác phẩm được viết theo lối thơ có 6 âm mỗi câu. Các học giả thường gọi tác phẩm này là "Bài ca Parménide" [Le Poème de Parménide]. Trong dòng lịch sử triết học, người ta thường hiểu tư tưởng của Parménide xoay quanh mấy câu được coi là điển hình như:
- Hữu thể có, [còn] hư vô không có [l' être est, le néant n' est pas];
- Nhà ngươi đừng suy tư về hư vô, cũng đừng nói về hư vô [Tu ne penseras pas le néant ni ne parleras pas du néant];
- Hữu thể và tư tưởng là một [Être et penser c' est la même chose].
Những suy tư đó cũng thường đưa đến kết luận rằng ông chủ trương vạn vật luôn trường tồn, vì tất cả vẫn chỉ là hữu thể đồng nhất với hữu thể. Tuy nhiên, cũng như đối với trường hợp Héraclite, gần đây, nhiều học giả lại muốn khám phá nhiều hơn và đi đến những kết luận khác với suy nghĩ truyền thống trong dòng lịch sử triết học.
Xin tóm lược tác phẩm "péri phuseos" và trích lại một vài câu quan trọng để cùng tìm hiểu tư tưởng của Parménide [2]. Bài ca gồm 3 phần :
Phần mở đầu
Nhà hiền triết này được các công chúa mặt trời hướng dẫn đi trên một hoàng xa, do những con ngựa kéo, với những tiếng bánh xe nghe cút kít. Trên lộ trình ấy, nhà hiền triết vượt những miền u tối để tiến về phía ánh sáng cho tới tận biên cương hai miền, rồi đi xuyên qua vào cái cửa lớn phải có tay thần Dikè mở cho.
Sau cùng nhà hiền triết tiến đến trước mặt Nữ Thần và được chính Nữ Thần tiếp đón một cách nồng hậu. Chính miệng nữ thần tuyên bố rằng : giờ đây, nhà người sẽ phải học hỏi tất cả; từ trọng tâm bất khuất của chân lý đầy tròn [aletheia] cho tới những thường kiến lừa đảo của người phàm trần [doxa].
Phần 1
Phần này, Nữ thần khuyên tác giả hãy đi vào con đường chân lý vương giả, từc con đường nhận thức hữu thể.
Câu 4. "Nhà ngươi hãy tiến gần lại đây, ta sẽ nói cho nhà ngươi hay - và nhà ngươi hãy lắng tai nghe những lời nói của ta và ôm ấp chúng trong lòng mình. Đó là điều sau đây : người ta chỉ có thể quan niệm được duy có hai con đường nghiên cứu. Con đường thứ nhất nói rằng: nó có, và không thể nó không có được. Đó là con đường cần được nhắn nhủ, vì nó có chân lý đi kèm theo".
Câu 5. "Con đường thứ hai nói rằng: Nó không có, và không cần nó có - ta bảo nhà ngươi, đây là con đường mòn không ai học hỏi được gì cả. Vì ngươi không thể biết được cái gì không có, và cũng không thể diễn tả nó được, đó là điều không thể; vì cùng một sự vật có thể quan niệm và có thể có"
Câu 8. "Vậy, chỉ còn lại duy có một con đường cần phải nói, đó là : Cái ấy có, trong nó có vô số dấu hiệu như cái có thì không bị sinh và không bị diệt vì nó hoàn bị, bất dịch và không có chủ đích. Không bao giờ nó đã có, hay sẽ có, vì nó hiện có trong hiện tại, đồng thời không bao giờ gián đoạn. Vì nhà ngươi tìm đâu ra cho nó nguồn gốc bây giờ ? Từ đâu và bằng cách nào, nó có thể phát sinh ? Ta sẽ không cho phép nhà ngươi nói và nghĩ rằng : nó phát sinh ra từ cái không có, vì ngươi ta không thể nghĩ và nói về cái gì không có. Và nếu có từ cái không gì, thì cái gì bó buộc nó sinh ra lúc này muộn hơn mà không sinh ra lúc khác sớm hơn ? Như vậy, hoặc là nó là tất cả hoàn toàn hoặc là nó không có gì cả". [...]
"Nó cũng không thể bị phân tán, vì nó hoàn toàn đồng đều và nó không có chỗ này hơn có ở chỗ kia, nếu không nó sẽ không tồn tại được, nó cũng không có ít; không nó có, nhưng lại hoàn toàn đầy đặn cái có. Do đó nó hoàn toàn liên tục, vì cái có liên hệ với cái có". [...]
"Vì vậy, có một giai đoạn cực đoan là nó hoàn bị tứ phía như khối tính của một hình cầu viên mãn, cân nặng đồng đều từ trung tâm ra tất cả mọi chiều kích". [...]
Phần 2
Phần này trình bầy con đường thường kiến, tức những ý kiến của người thường hay của phàm trần, chỉ biết đến những vật khả giác. Nhưng các học giả như Burnet lại khám phá thấy nét chính yếu nằm trong tính cách "tổng hòa" của tất cả vũ trụ.
Câu 12: "Giữa lòng những vòng tròn [có tính cách vũ trụ] có vị thần điều khiển sự diễn tiến của vạn vật; vì Ngài là nguyên lý cho mọi sinh trường và mọi hòa lẫn, có khả năng đẩy giống cái vào bàn tay ấm áp của giống đực và giống đực vào bàn tay ôm ấp của giống cái".
Câu 16: "Sự hòa lẫn chi phối thể xác và những cơ thể như thế nào thì tư tương con người cũng thể hiện như vậy; đối với mọi người cũng như đối với mỗi người đều có cùng một trí khôn và bản tính thể xác của loài người, và cái gì nổi bật nhất chính là tư tưởng".
III. TƯ TƯỞNG
1. Quan niệm về Hữu Thể
Trước hết, như chúng ta đã ghi nhận, học thuyết Parménide nhằm chống lại chủ trương biến dịch của Héraclite; do đó, Parménide tìm đến một bình diện căn bản hơn đó là bình diện hữu thể. Parménide xác định hữu thể là hiện hữu duy nhất. Xác định này giúp ông loại trừ được, ở bình diện căn bản, tất cả những gì có thể làm nguy hại đến tính cách trường tồn vững vàng của thế giới: phi-hữu-thể thì không có lý do gì để hiện hữu. Thế là con đường của Parménide đã trở nên quang đãng, không một bóng mây mờ. Tất cả vạn sự chỉ còn là hữu thể; tất cả mọi biến chuyển, nếu có, cũng nằm trong nền tảng chung là hữu thể.
2. Đặc tính của hữu thể
Rồi để tiếp tục chống lại mọi chủ trương cho rằng chỉ có biến dịch, Parménide triển khai con đường hữu thể như một nên tảng vững vàng, bất biến, trường tồn. Bởi vì Parménide đã tiêu diệt được hư vô như "tên thần chết khốn kiếp", thì ông cũng dễ dàng tiêu diệt những bóng ma của hư vô trong thực tại. Ông trình bầy "vô số dấu hiệu" của "cái có" như sau:
2.1 "Cái có thì không có sinh và không bị diệt"
Parménide chứng minh điều đó bằng cách khẳng định hữu thể không thể sinh ra từ hư vô được. Trên sân chơi của triết học bây giờ chỉ còn có "một cầu thủ" hợp pháp là hữu thể; cầu thủ ấy không cần trận đấu mà vẫn có thể đương nhiên thắng cuộc. Do đó, hữu thể trở thành "duy ngã độc tôn" trên trời dưới đất, nên đương nhiên nó "không sinh không diệt", vì "sinh-tử" thì yêu sách lẫn nhau như một cặp song sinh dính liền, có sinh mới có diệt. Vì hữu thể không có khởi đầu và không có kết thúc, nên nó cũng thoát được cái lướí thời gian; hữu thể không có quá khứ, không có tương lai, vì "nó hiện có trong hiện tại và không bao giờ gián đoạn". Hữu thể hoàn toàn không có biến dịch.
2.2 "Cái có không thể bị phân tán"
Khi không còn thời gian, thì hữu thể trở thành thường hằng bất biến, nó mang tính chất của một đơn nhất, loại bỏ được mọi phức hợp, đa thể. Do đó, hữu thể cũng không có thành phần và không có sự "bất chính" trong các thành phần như chủ trương của Anaximandre. Hữu thể là cái gì luôn đồng nhất với chính mình, "nó hoàn toàn đồng đều và nó không có chỗ này hơn có ở chỗ kia".
2.3 "Cái có hoàn bị tứ phía, như ... hình cầu viên mãn"
Những đặc tính đó tất nhiên đưa đến tính cách hoàn bị viên mãn của hữu thể. Hữu thể trở thành tuyệt đối, hoàn hảo, bao trùm tất cả mọi sự.
Từ những tính chất ấy, Parménide có thể đi tới quan niệm về một bản chất chung của thế giới, thống nhất và đồng tính với chính mình. Trong vũ trụ, không có gì sinh ra từ hư vô, và không vật gì mất đi mà không để lại dấu vết; nên dù các sự vật có khác biệt và biến chuyển thế nào, chúng vẫn chỉ có thể là hữu thể, tức là có thực. Vũ trụ như thế trở nên "hoàn bị, bất dịch" và vì không còn là một "sân chơi với những trận đấu nẩy lửa", vũ trụ trở nên hoàn bị như một bức tranh, và nó cũng trở thành "không có chủ đích".
3. Hệ Luận của con đường hữu thể
Trong khi trường phái Ionie, tương đối còn trung thành với kinh nghiệm giác quan, đã tìm cách giải thích sự biến dịch nhờ một yếu tố căn bản nào đó trong vũ trụ; và trong khi Pythagore, trong đường hướng chung của phái Nam Ý, mới bước một chân vào khung trời của lý trí khi tìm ra được một sự hòa âm của những con số như những qui luật cố định trong vũ trụ, thì Parménide lại đã thực sự dấn bước hoàn toàn vào lãnh vực tư tưởng.
Nhưng suy tư về hữu thể của Parménide hết sức hợp lý, với điều kiện là người ta phải nhắm mắt trước thực tại giác quan. Parménide đã không ngần ngại khẳng định một chân lý táo bạo "hữu thể và tư tưởng chỉ là một"; điều đó có nghĩa là ông khám phá thấy những qui luật của hữu thể hoàn toàn phù hợp với qui luật luận lý của tư tưởng. Hơn nữa, người ta có thể tư tưởng để giải thích thực tại. Ngược lại, điều gì không thể tư tưởng thì cũng không hiện hữu, điều gì không hiểu thể hiểu được bằng tư tưởng, điều đó sai lầm; và cuối cùng, như Zénon d' Élée đã làm, người ta bắt thực tại phải tuân theo qui luật của tư tưởng.
Ngay từ đầu, Parménide đã áp dụng qui luật của tư tưởng để loại trừ hư vô khỏi sân chơi "người không thể biết cái gì không có, và cũng không thể diễn tả nó được, đó là điều không thể; vỉ điều có thể quan niệm và điều hiện hữu cũng chỉ là một, là cùng một sự vật". Rồi những suy diễn về các đặc tính của hữu thể lại luôn ngầm chứa những nguyên lý mang tính luận lý, cũng là những qui luật của tư tưởng : nguyên lý đồng nhất, nguyên lý bất mâu thuẫn; và người ta có thể coi Parménide như ông tổ của những nguyên lý ấy.
4. Con đường giác quan
Theo lối giải thích truyền thống của lịch sử triết học, Parménide đã phân đôi thực tại thành một bên là chân lý và một bên là sai lầm. Con đường của nhận thức hữu thể là con đường vương giả và có chân lý đi cùng. Còn con đường của giác quan, của "cảm tính" [hay còn gọi là triết học phù hợp với ý kiến], nó có thể hữu ích cho cuộc sống, một cuộc sống cũng chỉ là ảo ảnh bên ngoài; nhưng nhiều khi nó lừa dối chúng ta, bóp méo các sự vật; nên xét trên phương diện tri thức, nó là con đường lầm lạc, làm ta xa rời chân lý.
5. Giải thích Parménide theo nghĩa Tổng Hoà
Tuy nhiên, Burnet, Boussoulas và một số học giả khác muốn tìm một cách giải thích học thuyết của Péménide theo đường lối tổng hòa, có phần gần với chủ trương của Pythagore.
Trước tiên, họ cho rằng cho rằng Parménide đã không hề nói đến từ hữu thể hiểu như một ý niệm trừu tượng, mà chỉ nói đến "cái có"; đó là cái đang có trong hiện tại, cái có cụ thể, tức là chính vạn vật đang có đây. Tất cả những sự vật ấy đều có như nhau, và bên cạnh cái có này không hề có một "hư vô" hay đúng hơn là không hề có một không gian trống rỗng nào. Như thế nghĩa là cái có trong vũ trụ là cái gì dầy đặc, và cũng không có vận chuyển đi đâu được.
Cách giải thích này cũng tìm được sự "ủng hộ" của Platon khi ông nói: "Parménide chủ trương rằng : tất cả mọi sự đều đơn nhất, và cái đơn nhất luôn luôn an tọa trong chính nó, vì nó không có khoảng trống trong đó nó có thể vận chuyển được" [3]; cũng như sự "ủng hộ" của Aristote khi ông này nói: "Parménide đã phải chủ trương rằng: đơn nhất có tính cách bất dịch chính là vì chưa một ai tưởng tượng có thể có một thực tại nào ngoài thực tại cảm giác cả" [4].
Như thế, trong phần thường kiến, nhất là qua hai câu 12 và 16 trích lại trên kia, rõ ràng Parménide vẫn nằm trong bầu khí tư tưởng của Pythagore, diễn tả một trạng thái "tổng hòa" trong toàn bộ vũ trụ.
Người ta có thể cho rằng vị Nữ Thần, hoặc Thần điều khiển vạn vật trong câu 12, hoặc thần Tất Định [Anaglkè = Nécessité] hay là chính Hữu Thể được bàn đến trong phần I, cũng chính là nguyên lý chi phối và tạo ra sự hòa hợp mật thiết của tất cả vũ trụ.
Người ta còn ghi nhận rằng tên của vị thần là Estia, và theo Cratyle thì Estia có nghĩa là Ousia, nghĩa là bản tính của sự vật. Vị thần Estia, hay bản chất của sự vật, chính là người giữ vị trí trung gian, trung hòa giữa những chất liệu căn bản của vũ trụ.
Như thế, theo chủ trương của Burnet và Boussoulas, không có việc phân đôi thế giới thành hai phần hữu thể và hư vô, hay chân lý và lầm lạc, trường tồn và biến dịch, mà tất cả đều được tổng hòa bao gồm của một mà nhiều, đơn nhất mà đa dạng. Boussoulas viết: "chính vì vậy mà người phàm trần mới triền miên trong lầm lạc, vì không có hai thực tại khác nhau. Hữu thể là Đơn nhất, nó chỉ là sự hòa lẫn, là tổng hợp hoàn hảo bao hàm và xiết chặt lý toàn diện cái cảm giác. Nói khác, hữu thể của Parménide là toàn thể biến hành, xét theo hai quan điểm vừa vô cùng dầy đặc vừa bất dịch một cách thường hằng" [5].
Chính nhờ giải thích phần hai của bài ca Parménide theo khuynh hướng đề cao nét tổng hòa, người ta có thể hiểu được một thứ vũ trụ luận và thiên văn học của Parménide.
5.1 Vũ trụ
Parménide nhìn nhận có hai chất liệu căn bản, đó là lửa và đất. Lửa là nguyên tố có tính chất sáng tạo; đất là chất liệu để sáng tạo. Con người là đất sinh mà ra. Lạnh và nóng nằm sẵn trong hai nguyên tố đó. Vạn vật đều do lạnh và nóng tạo ra [6].
Vũ trụ của Parménide là một sự hòa lẫn giữa lửa và đất; hay bằng sự dung hòa giữa có hạn và vô hạn.
5.2 Thiên văn
Parménide là người đầu tiên biết được quả đất hình cầu [có lẽ cùng lúc với Pythagore]. Ông cho rằng quả đất là trung tâm.. Ông nói "đất có nguồn gốc trực tiếp từ nước" [Bàn Về Tự Nhiên, D. 15a]; "Ánh sáng của Mặt Trăng lúc nào cũng là dựa vào ánh sáng của Mặt Trời" [Bàn Về Tự Nhiên, D. 15]. Ông quan niệm bầu trời gồm những vòng tròn triều thiên [couronnes] được hòa lẫn nhau bằng ánh sáng và đêm tối.
6. Hệ quả trong Lịch Sử Triết Học
Cho dù người ta có nỗ lực giải thích Parménide theo nghĩa đối lập với Héraclite hoặc theo khuynh hướng Pythagore, thì hậu quả trong thực tế của học thuyết Parménide vẫn là một điều, thực tế, có tầm ảnh hưởng quan trọng hơn cả. Hậu quả ấy trở nên những "án lệnh" trên dòng lịch sử triết học Tây Phương
* Nhận thức
Theo Nietzsche, Parménide là người đầu tiên tách biệt nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính. Ảnh hưởng của ông khiến cho triết học luôn khinh thường những "kiến thức thường nghiệm", những hiểu biết thông thường, dựa trên cảm tính; giữa ý kiến thông trường với tri thức.
Như thế ông là người đặt nền móng cho suy tư lý luận theo tinh thần duy lý; từ đó triết học muốn là một tri thức đích thực phải là tri thức hợp với những nguyên lý của lý trí.
Không nên đi theo con đường mà mọi người quen đi; căn cứ vào đôi mắt hồ đồ, vào đôi tai ồn ào, vào cái lưỡi uốn éo. Mà chính là phải dùng lý trí để giải quyết những vấn đề đang tranh luận bàn cãi
[Diogène Laerce, Q. 9. chương 3, 21-23. D.1]
* Phân đôi thực tại
Chính sự phân đôi hai phần trong bài ca Parménide đã dẫn lịch sử triết học tây phương đi vào con đường nhị nguyên. Tất cả nền siêu hình học sau Parménide, nhất là với Platon, cả trong nền luân lý Kitô giáo, cho đến Kant, đều đã tiếp tục nẻo đường phân chia thế giới thành hai, một bên là thế giới vững bền, hoàn hảo, thường hằng, siêu việt, vượt trên những biến động của thời gian, đó là thế giới của chân lý; và một bên là những gì trần tục, giả trá, tạm bợ, phù ảo, thế giới của những lầm lạc.
* Hữu thể học trở thành "siêu hình". Với Parménide, hữu thể trở thành trung tâm của triết học. Nhưng hữu thể của Parménide chỉ thành hình trên nền tảng của sự phân đôi thực tại; và cũng nhờ thế mà khoa hữu thể học có thể giản lược tất cả thế giới phức tạp trở thành hữu thể đơn nhất.
Quả thực Parménide đã tìm thấy được con đường siêu hình, vốn thích hợp với suy tư lý trí thuần túy của con người hơn con đường thế giới phức tạp. Nhờ con đường siêu hình ấy, thực tại phức tạp trở thành đơn giản thuần khiết trong hữu thể, và hữu thể lại tìm được những "siêu nghiệm tính" luôn đồng nhất với mình một cách khá dễ dàng.
Nhưng một khi khoa hữu thể học từ chối một nửa thực tại để chỉ đi vào con đường siêu hình, thì khoa hữu thể ấy cũng có thể trở thành một lời dối trá để che lấp thực tại.
* Cuộc sống và luận lý
Parménide đã đồng nhất thực tại và tư tưởng. Đó là con đường người gọi là con đường của tư tưởng biểu tượng. Trong thế giới của những biểu tượng, người ta dễ dàng đẩy nhanh tính cách duy lý của triết học và tất nhiên cũng soi chiếu ánh sáng suy lý ấy vào cuộc sống con người.
Con đường của thế giới biểu tượng ấy đã khởi đầu với một mệnh đề đơn giản "hữu thể có"; diễn tả theo luận lý là "A=A". Đó là mệnh đề trùng phức không nói lên điều gì lạ lùng cả. Cuộc sống của con người, được nhìn theo tinh thần luận lý ấy, rồi cũng sẽ tiếp tục trở thành những mệnh đề hợp lý và trùng phức. Những điều này tiến bước mạnh mẽ cho đến cao điểm là triết học thời cận đại; khi đó, Hégel đã có thể khảng định "tất cả những gì hiện hữu là hợp lý; và những gì hợp lý thì hiện hữu"; hay Leibniz đã có thể đề ra một thế giới lạc quan, trong đó, tất cả mọi sự đều là tốt nhất.
KẾT
Có lẽ không ai có thể diễn tả tất cả bước đường triết học sau Parménide hay bằng NIetzsche, và chúng ta có thể dùng như kết luận của bài này:
"Ngày đó, trong trạng thái tinh thần đó, ông [Parménide] kiểm thảo hai đối kháng cùng hoạt động đồng thời như tình yêu và căm thù cấu thành vũ trụ và biến dịch, hữu thể và vô thể, những đặc tính tích cực và tiêu cực - và bỗng nhiên ông dừng lại, tỏ thái độ đầy khinh bỉ đối với ý tưởng về tính chất tiêu cực và hư vô. [Ông tự hỏi] Một sự vật không có, có thể có một đặc tính được không ? Hay, một cách lý thuyết hơn nữa, cái không có, có có được không ? Vậy chỉ duy có một hình thức tri thức lập tức gây được tín nhiệm tuyệt đối cho ta mà không ai chống đối được trừ khi óc họ điên loạn. Đó là trùng phức luận A = A. Và chính tri thức trùng phức luận này thét vào tai ông rằng "cái không có, không có. Cái có, có". Bỗng nhiên ông cảm thấy đè nặng trên cuộc sống ông một sai lầm kỳ quái về luận lý; quả vậy ông đã luôn luôn chấp nhận không hoài nghi rằng : có những đặc tính tiêu cực, có hư vô và do đó, nói bằng công thức là A = phi-A, đó chỉ là điển hình cho một hỗn loạn hoàn toàn về tư tưởng. Tuy rằng khi ông nghĩ tới đó, tất cả đại chúng loài người đều cho là một lỗi lầm. Chính ông cũng tham dự vào tội ác của loài người đối với luận lý học.
Nhưng chính khoảng khắc ông bị mang tíếng là phạm tội ác lại là khoảng khắc đưa ông lên đài vinh quang vì đã thực hiện được một khám phá vĩ đại, nghĩa là ông đã tìm ra được một nguyên tắc, một chìa khóa về sự huyền bí của vạn vật. Đến đây, ông đã xa với mọi ảo tưởng của phàm trần, và được hướng dẫn bởi một bàn tay cương nghị và kinh khủng của chân lý trùng phức về vấn đề hữu thể, giờ đây, ông đi xuống vực thẳm của trần gian.
Dọc đường, ông gặp Héraclite, nhưng là cuộc gặp gỡ gay cấn ! Ở một con người chỉ biết [trên hết] có sự phân chia rõ rệt giữa hữu thể và hư vô, nhưng nhất là giờ đây ông lại phải thù ghét sâu độc cái trò lý luận mâu thuẫn của Héraclite như : "Ta có và đồng thời ta không có... hữu thể và hư vô là một và đồng thời khác nhau". Một mệnh đề như thế làm đảo lộn và xáo trộn tất cả những gì ông vừa gỡ rối và minh giải; do đó ông tức giận và la lớn rằng : "Các bạn hãy loại bỏ những con người hình như có hai đầu và không biết gì cả. Nơi họ tất cả đều lưu chẩy kể cả tư tưởng của họ. Họ ngây ngô nặng nề trước vạn vật, nhưng họ phải là những người điếc và mù mới làm xáo trộn những đối nghịch như vậy !" [7] .
Chú thích
[1] Vài chục câu khác không chắc là của Parménide.
[2] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 204-205; 229-230; 236-237.
[3] Platon, Théèt. 180 e3; trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd trang 233.
[4] Aristote, De Coelo, T,I, 298 b 21; trích lại trong Lê tôn Nghiêm, Sđd trang 233.
[5] Trích lại trong Lê Tôn Nghiêm, Sđd, trang 240.
[6] Diogène Laerce, Q. 9, chương 3, 21-23, D. 1.