Bài 8: Hoàn cảnh nẩy sinh nền triết học Nam Ý - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Chi Phạm · · Triết sử Cổ đại

Nền tríết học Ionie giống như một dòng tộc bị tuyệt tự.

Chương II

Nhóm Nam Ý

8

HOÀN CẢNH

NẨY SINH NỀN TRIẾT HỌC NAM Ý

Nền triết học Ionie giống như một dòng tộc bị tuyệt tự. Hoàn cảnh xã hội với nhiều biến động đã đưa "đứa con triết học", được khai sinh nơi miền đất Ionie, đi phiêu bạng đến một chân trời khác, đến phía tây của Hy Lạp. Tại vùng trời mới này, triết học "lớn lên" với những "chất dinh dưỡng" khác và mang "hình dáng" khác. Tại đây, nẩy sinh trường phái Pythagore với nền triết học về tôn giáo, và trường phái Élée với nền triết học về hữu thể.

Chúng ta cần nhìn lại hoàn cảnh của cuộc thay đổi này.

1. Cuộc di dân

Cuối thế kỷ thứ VI, Ba Tư trở nên một đế quốc hùng mạnh và muốn mở mang lãnh thổ của mình. Các thành bang ở Tiểu Á, đứng đầu là Milet muốn chống lại cuộc xâm lăng của Ba Tư nên cầu cứu Hy Lạp {năm 499}. Athènes phái chiến thuyền sang và phá được chiến lũy Sardes, thủ phủ của Ba Tư ở Tiểu Á. Nhưng đến năm 494, quân Ba Tư lại mang quân đánh phá và san bằng thành phố Milet, giết chết và bắt làm tù binh; Một nửa số thanh niên trai tráng, phụ nữ trong thành bị bắt về làm nô lệ. Dân chúng tại các thành Tiểu Á thuộc Đại Hy Lạp phải tìm đất định cư mới, họ đã chạy đến vùng Nam ý và đảo Sicile. Đây là một cuộc di dân lớn, tạo nên nhiều thay đổi trong tâm thức, văn hóa và tôn giáo của Hy Lạp.

2. Các phong trào tôn giáo

Song song với cuộc di dân này, có phong trào phục hưng các tôn giáo huyền bí ở Hy lạp. Khi ấy, cuộc sống dân Hy Lạp, vốn bị đè nặng bởi số mệnh, bởi chiến tranh, không tìm được sự nâng đỡ qua các nghi lễ tôn giáo chính thức; nên hướng tới các tôn giáo thần bí. Những tôn giáo này giúp họ giải thoát khỏi những vướng bận của trần thế khổ đau và sống niềm tin tưởng vào cõi trường sinh bất tử. Ba trào lưu thần bí đáng kể [1]:

2.1 Huyền giáo D' Éleusis [2]

Tôn giáo này xuất hiện ở vùng Éleusis, một thành phố ở miền đồng bằng Attique, sau đó lan ra khắp cả Hy lạp. Trọng tâm của tôn giáo Éleusis là việc tôn thờ nữ thần Déméter, cùng với những nghi lễ huyền bí dâng kính "ba ngôi": Déméter-Perséphone-Triptolème; được coi là những vị thần phù hộ cho mùa màng phì nhiêu.

Déméter {hay Cérès} là vị thần đất và thần lúa mì. Bà có nhiệm vụ làm cho đất đai được phì nhiêu, mùa màng tươi tốt. Déméter có một người con gái với thần Zeus tên là Perséphone {hay Coré}. Trong khi đó thần Diêm Vương Hardex {hay Pluton} không kiếm được vợ nên tìm cách bắt Perséphone xuống âm ty làm vợ. Déméter bỏ núi Olympe để đi tìm con. Trên đường đi quang xứ Attique, Deméter được vua xứ Éleusis đón tiếp nồng hậu. Démèter trả ơn bằng cách dạy cho hoàng tử Triptolème nghệ thuật cầy bừa ruộng đất, và ban cho một cỗ xe do những con rồng kéo; với chiếc xe này, Triptolème đi khắp trái đất để gieo vãi những hạt giống.

Déméter mải tìm con nên quên hết nhiệm vụ cai quản đất đai và mùa màng. Thế là đất đai trở nên cằn cỗi, mùa màng thất bát, không còn có mưa thuận gió hòa; thiên nhiên buồn thảm như người mẹ mất con. Nạn đói xẩy ra giết chết nhiều người. Thần Zeus phải can thiệp để Perséphone được trở về. Tuy nhiên, vì Perséphone đã ăn mấy hạt lựu tại âm phủ, tượng trưng cho một cuộc hôn nhân không thể chia cắt, nên nàng không thể nào rời bỏ âm ty hoàn toàn được. Thần Zeus sắp xếp, mỗi năm Perséphone phải về Âm ty sống với chồng một phần ba thời gian trong năm [3]. Khi Perséphone ở dưới Âm ty, Déméter lại sống trong buồn phiền và thiên nhiên cũng u sầu, ủ dột, cây cối khô khẳng và than khóc [mùa đông].

Nghi lễ Eleusis gồm hai nghi lễ bí mật vào mùa xuân và mùa thu. Mục đích các nghi lễ là cầu cho được mùa màng và được hưởng phúc trường sinh sau khi chết. Trong nghi lễ này, người ta được tham dự vào nghi thức thần bí, ghi dấu một sự thoát tục và liên lạc với thế giới thần thánh.

Những mầu nhiệm của tôn giáo Éleusis giúp con người tin vào hạnh phúc bất diệt, đón nhận cái chết như một cửa ngõ giải thoát và tìm được những phút bình yên, thanh thản. Tôn giáo này cũng giảng dạy kỹ thuật xuất thần. Niềm tin nơi tôn giáo Éleusis ảnh hưởng mãnh liệt trên tâm trí Hy La và được tiếp thu vào tôn giáo chính thức của Athènes.

2.2. Tôn giáo thờ Dionysios

Thần thoại về Dionysos {hay Bacchus} phát xuất từ xứ Thrace, nhưng được du nhập vào rất sớm vào Hy Lạp. Dionysos là kết quả của một mối tình vụng trộn giữa thần Zeus và bà Sémélé. Vì sự ghen tuông của Héra, Dionysos đã phải chịu một cuộc đời truân chuyên: mẹ chết, được thần Zeus dấu trong đùi và sinh ra từ đùi của bố; rồi được gởi cho nhiều thần nuôi nấng mới sống sót được. Khi lớn lên, Dionysos đi thang thang khắp nơi để dạy cho dân chúng nghề trồng nho và ép nho làm rượu. Cuối cùng Dionysios được công nhận là vị thần núi Olympe và được coi là vị thần của sự phì nhiêu, của cây cối phát triển. Đồng thời, Dionysos cũng là thần của việc sinh tử trong thiên nhiên [4].

Nghi lễ thờ thần rượu nho Dionysos trở thành nghi lễ chính tại Athènes từ thế kỷ VI tcn; được cử hành bằng một đám rước đuốc; trong đó, người ta uống thật say, nhẩy múa kích động, dậm dật; khi đó, người ta được giải thoát khỏi những cấm kỵ, những phép tắc trong cuộc sống hằng ngày, để sống hết bản năng phóng túng, cuồng loạn, nghịch ngợm. Dionysos còn được gọi là Liber, vì rượu giúp con người sảng khoái, quên hết ưu phiền và được giải thoát, được tự do.

Tôn giáo thờ Dionysos cũng chú trọng đến cách tu luyện huyền bí và kỹ thuật để đạt được tình trạng xuất thần. Nhờ đó, người ta nhận ra bản chất và sức sống đích thực của linh hồn. Ý tưởng này khá mới mẻ; và nghi lễ này đã hấp dẫn đám dân di cư từ Ionie. Ảnh hưởng của việc thời cúng Dionysos có tính cách quyết định đối với nền văn hóa Hy lạp; khai sinh ra một lối nhìn mới về mối tương quan giữa con người với vũ trụ.

2.3 Huyền giáo Orphisme [5]

Theo truyền thuyết, Orphée, con trai vua Thrace, là người đã sáng lập ra tôn giáo Orphisme. Orphée là một nhạc sĩ tài ba. Với cây đàn chín giây, ông có thể khuất phục được thần thánh, mọi người và cả các sự vật. Vợ của Orphée là Eurydice bị rắn cắn chết, nên Orphée phải xuống âm ty tìm vợ. Nhưng trước khi đưa được vợ ra khỏi cõi âm, Orphée đã vi phạm lời hứa là quay lại nhìn phía sau, nên nàng Euripide bị tan biến thành mây khói. Orphée về trần gian trong sự chê chán mọi tình yêu với các cô gái. Sau đó, ông bị giết chết và bị chặt ra từng mảnh, thi thể bị quăng khắp nơi dưới chân núi Olympe

Tôn giáo Orphisme tin rằng linh hồn con người có cuộc sống riêng. Nó phải bị giam trong thân xác vì mang tội. Linh hồn phải đầu thai trong các xác thể sinh vật khác nhau để thanh luyện và dần dần trở nên cao cả hơn.

Chỉ có những người đã được khai tâm trong các huyền nhiệm Orphisme, nhưng người đã biết các công thức ma thuật để vượt qua từ thân xác này đến thân xác khác, mơí có hy vọng đạt tới một sự giải thoát toàn diện mai sau. Nghi thức Orphisme thực hành phép rửa bằng sữa dê để chuẩn bị cho cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu; vì họ được quyền tự do lựa chọn tốt xấu.

Thật ra, nguồn gốc tôn giáo này rất phức tạp và có nhiều điều ngày nay người ta chưa khám phá ra hết. Trong thực tế nó được sát nhập với tôn giáo Dionysos và tôn giáo Éleusis, hình như để đáp ứng nhu cầu cần có một vị thần duy nhất.

Tôn giáo Orphísme đề cao một sức mạnh huyền bí giúp con người sống trong hy vọng, được giải thoát khỏi ám ảnh của cái chết, của kiếp sống luân hồi trong đau khổ; và được hưởng hạnh phúc ở kiếp sau.

Ý nghĩa chính của nghi lễ Orphisme là phát huy yếu tố thần thánh để lấn át yếu tố "titanique", tức yếu tố phàm tục thô lỗ; tham dự vào tiềm lực vũ trụ bằng một đời tu thân khắc khổ, tinh khiết và ca tụng thần thánh bằng lễ nhạc.

3. Kết

Tất cả những tôn giáo ấy gây ra một sự thay đổi trong nhãn quan triết học, một nền triết học khác hẳn với trường phái Ionie. Các nhà triết học sau đó sẽ có dịp khai thác nhiều điều trong các Huyền giáo; để hình thành một một thứ triết học tôn giáo. Triết học thời kỳ này chú trọng đến mục đích đời sống, triết lý trước hết là con đường giải thoát; nó cũng thường mang tình nhị nguyên, đề cao linh hồn, chú trọng đến cuộc sống mai sau và khát khao kỹ thuật xuất thần.

Burnet nhận định rằng:

Sự phục hưng tôn giáo như thiết yếu làm nẩy sinh ra ý tưởng rằng: trên hết, triết lý là con đường sống, vì khoa học cũng là "một sự thanh tẩy", một phương tiện thoát lý khỏi vòng luân hồi

Chú thích

[1] Xc. Joel Schmidt, Dictonaire de la Mythologie grecque et romaine; Librairie Larousse-Paris 1965; Nguyễn Văn Khỏa, Thần Thoại Hy Lạp, Nxb Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1986; Mặc Đỗ, Thần Nhân và Thần Thoại Tây Phương, Cơ Sở xuất bản Trương Vĩnh Ký, 1974.

[2] Xc. Joel Schmidt, Sđd, các từ: Éleusis, Déméter, perséphone; Triptolème.

[3] Có nơi viết là 6 tháng.

[4] Dionysos cũng còn được gọi là Dionysos-Zagréos; do chuyện kể rằng trước đây, chính Zeus đã ân ái với Perséphone, sinh ra một đứa con trai tên là Zagréos. Héra ghen tuông nên sai các Titans đến xé xác zagréos. Zeus nổi sấm sét giết các titans; và từ đám tro tàn đó nẩy sinh loài người. Quả tim Zagréos còn sót lại vẫn còn sống, được Zeus trao cho Sémélé nuốt vào. Sau này, Sémélé mang thai và sinh ra Dionysos, nhưng đó chính là Zagréos tái sinh. Như thế Dionysos được sinh ra hai lần.

[5] Xc. Joel Schmidt, Dictonaire de la Mythologie grecque et romaine; Librairie Larousse-Paris 1965; các từ: Orphée; Orphisme.

Bài 9: Trường phái Pythagore >>