Khái lược về Lịch sử Triết học Tây Phương - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Từ Philosophia, theo nghĩa chúng ta tìm hiểu ở đây, là một sản phẩm của tinh thần tây phương. Chắc chắn ở đông phương cũng có những hình thức tư tưởng có thể được coi như là "philosophia", nhưng tự căn bản, hai thứ "philosophia" đó khác biệt nhau.
KHÁI LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
I. NGUỒN GỐC TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Từ Philosophia, theo nghĩa chúng ta tìm hiểu ở đây, là một sản phẩm của tinh thần tây phương. Chắc chắn ở đông phương cũng có những hình thức tư tưởng có thể được coi như là "philosophia", nhưng tự căn bản, hai thứ "philosophia" đó khác biệt nhau.
Sự kiện có tính cách quyết định trong nền tảng triết học Tây Phương là việc con người ý thức về mình; sự kiện đó làm cho con người trở thành một cá thể tách biệt khỏi sự duy nhất của vũ trụ; ý thức về mình đó cũng làm cho con người mang một khát vọng mãnh liệt được tự do, điều này làm nên bước tiến triển có tính cách quyết định cho tư tưởng tây phương. Người Hy Lạp đã triển khai yếu tố này thành khoa triết học, có những nguyên tắc riêng như một khoa học và độc lập với tôn giáo.
Công trình đó được hình thành trong những ảnh hưởng tương tác với tôn giáo. Ta không nên quên hậu trường của triết học vẫn là những niềm tin tưởng mang tính chất tôn giáo. Tuy nhiên, ngay trong tôn giáo của người Hy lạp, người ta đã thấy chiến thắng của lý trí sáng tỏ đối với những hình thức tôn thờ các sức mạnh thiên nhiên.
II. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC [10]
Theo nguyên tắc, lịch sử triết học khác với triết học về lịch sử. Lịch sử triết học là trình bầy một cách "khách quan" những tư tưởng của các triết gia theo dòng lịch sử; còn triết học về lịch sử là một cái nhìn, một quan điểm, một cách giải thích diễn tiến của lịch sử triết học, chẳng hạn quan điểm của Hegel, của Auguste Comte, của Marx, của Teilhard de Chardin... Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta có thể nhận ra, trong mọi giáo trình lịch sử triết học, một thứ triết học về lịch sử; chính cách thức sắp xếp, chọn lựa hoặc những nhận định cũa người viết giáo trình đã bộc lộ quan điểm của người đó về lịch sử triết học rồi.
Mặt khác, lịch sử triết học cũng không thể nào được giải thích sáng tỏ một lần rồi xong, cũng không thể coi một giải đáp nào đó là duy nhất. Chúng ta không thể nào có tham vọng làm được một phê bình toàn diện lịch sử triết học, hoặc tìm thấy một học thuyết nào hoàn toàn đúng, làm tiêu chuẩn cho mọi triết thuyết khác. Càng đi vào lịch sử triết học, chúng ta càng thấy rõ ràng hơn huyền nhiệm con người, và mỗi triết thuyết góp phần làm sáng thêm huyền nhiệm đó.
III. TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Khác với phần lớn các môn học khác, việc học triết không thể tách rời với việc học lịch sử triết học. Người ta có thể biết một công thức toán học và áp dụng vào một bài toán một cách hoàn toàn chính xác mà không cần biết nguồn gốc của công thức đó; người ta có thể làm lại một thí nghiệm hóa học để tìm ra một thành phần hóa học mà không cần biết ai là người đầu tiên khám phá ra hoá chất đó và khám phá ra trong hoàn cảnh nào....
Với triết học thì không như thế: người ta không thể hiểu được cái "cogito" nếu không biết về Descartes, về hoàn cảnh thời đại cũng như hoàn cảnh riêng của ông. Nếu không, người ta sẽ dễ dàng biến triết học thành những châm ngôn, thành một số mệnh đề có tính cách máy móc, và điều đó hoàn toàn phản lại tinh thần của tiết học. Jarspers nói rằng: "Ta không đạt tới được triết học nếu không đi qua lịch sử triết học".
Theo lối phân biệt hiện nay, triết học thuộc về khoa học nhân văn, khác biệt với các bộ môn khoa học tự nhiên; mà khoa học nhân văn là khoa hoc không hoàn toàn "khách quan", nhưng có phần đóng góp quyết định của suy tư riêng. Một cách nào đó, chúng ta có thể nói chân lý triết học là một thứ "chân lý nhân văn".
Tuy nhiên, nhìn triết học như thế sẽ nẩy sinh một khó khăn: Khi suy tư, triết gia muốn khám phá một chân lý trường tồn, phổ quát. Thế mà, khi trình bày tư tưởng của triết gia, lịch sử triết học lại muốn đem chân lý đó vào trong hoàn cảnh văn hóa riêng biệt của ông, đóng khung nó trong thời gian và không gian xác định. Như vậy, phải chăng, hoặc là lịch sử triết học luôn phản lại ý định của triết gia? Hoặc triết gia luôn là người ảo tưởng?
Chúng ta chỉ có thể giải quyết được khó khăn này khi vượt qua được não trạng "luận lý hình thức" để nhận ra vấn đề con người như một huyền nhiệm không bao giờ được soi tỏ hoàn toàn. Chân lý triết học gắn liền với con người, mang tính chất của con người, và như thế, chân lý triết học vừa có phần là một chân lý của con người nói chung, vừa là chân lý của riêng một người cá biệt, độc đáo nào đó. Khi triết gia cố gắng suy tư và khi lịch sử triết học cố gắng trình bày lại những suy tư đó, cả hai đều góp phần làm sáng ra chân lý về con người. Chân lý đó, một phần vừa vô cùng, không giới hạn, phần khác nó mang tính chất của một chân lý cụ thể, sống động, hay có thể nói là "chân lý đa diện",
Chỉ lưu ý đến quá khứ mà bỏ quên hiện tại, hoặc chỉ lưu ý đến hiện tại mà bỏ quên quá khứ; chỉ lưu ý đến cái trường tồn mà không biết gì đến cái cụ thể, hoặc chỉ quan trọng háo cái cụ thể mả không đoái hoài gì tới cái trường tồn, mọi thái độ có tính cách loại trừ như thế đều có nguy cơ đánh mất chân lý triết học; và sâu xa hơn, dẫn tới việc giản lược con người; bởi vì con người vừa là một sinh vật có những đặc tính chung, có cùng một "ơn gọi làm người", lại vừa là một ngôi vị độc đáo, riêng biệt.
IV. CÁC THỜI KỲ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Triết học Tây Phương đã trải qua bốn thời kỳ khá rõ rệt:
1/ Triết học Thời Thượng Cổ hay triết học Hy-La: từ khoảng thế kỷ thứ VI tcn đến thế kỷ thứ XVI cn (năm 529, Hoàng Đế Julien ra lệnh đóng cửa trường học ở Athènes). Thời kỳ này tạo nên nền tảng của tất cả lịch sử triết học Tây phương và bao gồm nhiều hạt mầm cho nhiều khuynh hướng đa dạng sau này.
2/ Triết học thời Trung Cổ hay triết học Kitô giáo: Có thể kể từ khởi đầu biến cố Kitô giáo, trải qua thời các giáo phụ, thời triết học Ả Rập và thời hoàng Kim với triết học Kinh viện. Chấm dứt vào thế kỷ XV, với biến cố người Hồi Giáo đánh chiếm thành Constantinople năm 1453. Có thể tạm nói đây là thời kỳ “đối thoại” giữa nền tảng triết học Hy Lạp và niềm tin tôn giáo.
3/ Triết học Cận Đại: khởi đầu từ khi chấm dứt thời Trung Cổ vào thời kỳ "Phục Hưng"; nền triết học cận đại, nói chung, là cuộc “đối thoại” giữa nền tảng triết học Hy Lạp và tinh thần khoa học cũng như những phát minh của khoa học thực nghiệm. Nét chung của thời kỳ này là sự tin tưởng vào lý trí cùng những khả năng con người. Vấn đề lớn trong thời kỳ này là vấn đề nhận thức luận. Thời Cận đại chính thức khởi đầu với Descartes và lên đến cao điểm với Kant và những phản ứng sau Kant.
4/ Triết học Hiện Đại: Manh nha từ đầu thế kỷ XIX, chính thức khởi đầu từ thế kỷ XX, với nhiều trào lưu khác biệt nhau. Trào lưu có nhiều ảnh hưởng nhất là triết học Hiện Sinh, và trào lưu Siêu Hình Học mới. Có thể tạm coi đây là thời kỳ suy tư về vị thế, phẩm giá con người.
V. ĐẶC TÍNH CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Nhìn chung, chúng ta thấy triết học tây phương có nhiều khuynh hướng khác biệt và đối lập nhau, có những chặng ghi dấu những biến đổi khá rõ ràng; điều đó cho thấy một tinh thần đối chất, mạnh dạn, năng động của người Hy Lạp và Tây Phương nói chung. Tinh thần đó rất dễ "quá khích", thích tuyệt đối hóa và cũng dễ đưa tới những lệnh lạc; nhưng tinh thần đó cũng làm rõ ràng nhiều vấn đề và thúc đẩy nhanh một tiến trình suy tư.
Lý do của tinh thần này là triết học tây phương, cũng mang vết tích của tinh thần Hy Lạp, thiên về suy tư lý trí.
VI. VÀI VẤN ĐỀ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
1. CÓ TIẾN BỘ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HAY KHÔNG?
Lập trường của mỗi bên đều có những triết gia lớn bênh vực. Vấn đề này chúng ta tạm tóm gọn lại như sau:
- Chân lý về con người không phải chỉ là một khuôn mẫu khách quan nào đó, và người ta không thể chỉ lấy những cái nhìn chung về con người để áp dụng cho mọi con người. Như thế, không thể có sự tiến bộ xét như là triết học sau có thể hoàn toàn thay thế cho triết học trước.
- Nhưng cũng không phải là không có chân lý chung về con người mà chỉ có những con người độc đáo thế này thế khác. Vì lịch sử cũng như kinh nghiệm thường ngày cho thấy con người có vận mạng chung, có khao khát giống nhau...Vì vậy, có những cái nhìn không trọn vẹn về con người, được bổ túc do những triết gia kế tiếp nhau trong dòng lịch sử.
2. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ĐƯỢC GIẢI THÍCH BẰNG TÂM LÝ VÀ XÃ HỘI HỌC?
Có một thời người ta say mê tâm lý và tưởng như tâm lý học có thể cắt nghĩa tất cả cuộc sống con người. Cũng vậy, thế kỷ XIX ở tây phương là thế kỷ hình thành những học thuyết xã hội lớn có tham vọng giải thích toàn thể lịch sử con người.
Thực ra, không ai chối ảnh hưởng của tâm lý và xã hội. Nhưng con người còn là tự do. Tự do đó có thể bị "nhuộm mầu" do tâm lý hay xã hội để tỏ lộ thế này thế khác. Nhưng tự do vẫn là nó, nghĩa là nó vẫn là chọn lựa có trách nhiệm của mỗi con người, chọn lựa cơ bản trong những hình thái sống bị chi phối do xã hội hoặc chiều sâu tâm lý. Điều này Henry Bergson đã cho chúng ta thấy khá rõ.
KẾT
1. Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Lịch sử triết học là một nỗ lực của con người, những cố gắng cao nhất, để hiểu về chính mình. Trong lịch sử triết học, chúng ta gặp được những suy tư tinh tế nhất của những bộ óc lớn nhất trong nhân loại; những suy tư đó thật sự làm chúng ta kính phục, nhưng đồng thời chúng ta cũng cảm nhận thấy ngay trong đó bóng dáng của sự thất bại, ít nhất là xét trong dự định của triết gia. Mỗi triết gia, trong hoàn cảnh và thời đại của mình, đã tưởng có thể làm sáng tỏ một lần thay cho tất cả về vận mạng con người. Thế rồi khi hoàn cảnh đã trôi qua, cuộc sống nhân loại vẫn cứ thay đổi với thời gian, não trạng của thời đại không còn như trước, thì nhưng suy tư tưởng như tinh tế nhất lại trở nên cái gì khiếm khuyết, lệch lạc hoặc hơi lố bịch nữa.
Bài học của lịch sử triết học, trước tiên, có lẽ là bài học về sự tương đối; và kết luận của lịch sử triết học, trước tiên, không phải là ánh sáng làm ta hiểu rõ ràng, minh bạch về con người, mà lại là thứ ánh sáng làm hiện lên nét huyền nhiệm của con người. Nhìn dưới phương diện này, ta lại thấy đây là một thành công lớn của lịch sử triết học.
2. CHIỀU HƯỚNG CHÍNH YẾU CỦA LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Một cách nào đó, chúng ta thấy lịch sử triết học tây phương chính là sự chiến thắng của lý trí trên những gì là "mờ tối", và cả những gì là huyền nhiệm, ít là cho đến hết thế kỷ XIX. Xét trong một số khía cạnh, Auguste Comte tỏ ra có lý với định luật Tam Trạng của ông (theo đó, con người đi từ giai đoạn tôn giáo, đến giai triết lý và sau cùng là giai khoa học; cái sau đến thay thế cho cái đi trước). Chiều hướng đó, nói chung, chẳng những bộc lộ ra nơi các hệ thống triết học, mà cả nơi tâm thức của dân chúng trong cuộc sống hằng ngày. Càng ngày người ta càng muốn giải đáp vấn đề con người bằng những bài toán cộng trừ trên bề mặt sự kiện nhiều hơn; những giải pháp đó càng ngày càng ít tính chất "trừu tượng" của triết lý, đồng thời cũng giảm thiểu chiều sâu ý nghĩa nhân văn; những giải pháp đó cũng càng ngày càng ít chiều kích huyền nhiệm, ít tính chất siêu nhiên hơn.
Tuy nhiên, trong thế kỷ XX này, người ta không còn có thể "lạc quan cách dễ dãi" như thế nữa. Những giải pháp như thế làm khô cằn, nghèo nàn phẩm chất con người nhiều hơn; đó là chưa kể đến những nguy hại trực tiếp của tinh thần duy khoa học. Đây lại là một bước tiến đến một thời đại "hậu hiện đại", đồng thời cũng là "hậu duy lý" .
3. NHẬN THỨC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC THEO CÁI NHÌN ĐỨC TIN
Với con mắt đức Tin, người Kitô hữu không bi quan, vì tin có Thánh Thần vẫn đang làm việc trong lòng thế giới. Với cái nhìn đức Tin như thế, chúng ta lại nhận ra trong lịch sử nhân loại nói chung, nhất là trong lịch sử triết học tây phương, có một "trào lưu tục hóa" để tiến đến "thánh hóa", hay tiến trình tiến đến việc "nhập thể" của thực tại Cứu Độ vào trần thế mỗi ngày mỗi sâu sắc và trọn vẹn hơn. Mỗi bước đi của tiến trình này giống như giai đoạn "phân hóa" đưa đến tiến trình "hội nhập" trong tâm lý một con người; các thực tại phong phú của vũ trụ này "cần" được trải qua một cơn "khủng hoảng" của tiến trình "trần tục hóa" (phân hóa) để rồi được tìm lại một cách tinh tuyền và trọn vẹn hơn trong Nhiệm Cục Cứu Độ của Thiên Chúa (hội nhập). Chúng ta thấy được khá nhiều nét minh họa cho lối nhìn này trong dòng lịch sử Cứu Độ, lịch sử Giáo Hội và Lịch Sử triết học.
Đọc lịch sử triết học với nhãn quan của niềm Tin, chúng ta nhận thấy rõ ràng hơn điều Công Đồng Vatican II quả quyết : huyền nhiệm con người chỉ có thể sáng tỏ trong mầu nhiệm Đức Kitô. Đức Kitô là Ngôi Lời, là khuôn mẫu của nhân loại. Nhưng đây không phải chỉ là "Đức Kitô lịch sử" xét như là một lối sống, hoặc như một chân lý đã hoàn toàn xong. nhưng đây còn là Đức Kitô trong Thánh Thần, nghĩa là một sức sống, một mầu nhiệm vẫn còn đang sinh động, phong phú./.
Chú thích:
[10] Xc thêm: Nguyễn Trọng Viễn, Triết Học Nhập Môn, trang 148-157.