Lịch sử Triết học Tây phương - Lựa chọn hướng làm việc - Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Việc học triết trong chương trình đào tạo linh mục luôn là một vấn đề cần thiết; trong đó, phần lịch sử triết học được nhắc nhủ đặc biệt.
Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
LỰA CHỌN HƯỚNG LÀM VIỆC
I. VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC
1. VIỆC HỌC TRIẾT
Việc học triết trong chương trình đào tạo linh mục luôn là một vấn đề cần thiết [1]; trong đó, phần lịch sử triết học được nhắc nhủ đặc biệt [2]. Điều này không phải là không có lý do:
- Trong lịch sử Giáo Hội, Việc diễn tả tư tưởng thần học vẫn luôn phải dùng đến những hạn từ, những quan điểm triết học. Hơn nữa, mỗi một nền thần học hay một quan điểm thần học thường dựa trên một hệ thống, một quan niệm triết học nào đó.
- Mặt khác, triết học, hay nói rộng hơn, tư tưởng thực sự vẫn chi phối thế giới, vẫn là nền tảng sâu xa của một phong cách sống, một não trạng, và là nguồn gốc của nhiều vấn đề lớn trong xã hội con người. Muốn hiểu được thế giới và muốn rao giảng Tin Mừng cho thế giới đó, người Kitô hữu không thể nào không biết đến triết học.
- Môn Lịch sử triết học chẳng những có thể giúp cho chúng ta hiểu được các trào lưu, các lập trường triết học cách đúng đắn; giúp hiểu được các giáo phụ và thần học Kitô giáo; mà còn giúp cho những giải đáp của mình không trở thành quá ngây ngô.
Nói chung, triết học được coi như khuôn mẫu tiêu biểu của sự khôn ngoan nhân loại. Sự khôn ngoan này, đối với người Kitô hữu, tuy có nhiều khi bộc lộ ra trong thế đối nghịch với sự khôn ngoan của Thiên Chúa; nhưng, tự bản chất, nó vẫn là "sự khôn ngoan thuộc về Thiên Chúa". Người Kitô hữu trưởng thành phải nhận ra được sự khôn ngoan này thuộc về chương trình Sáng Tạo và cần làm cho sự khôn ngoan đó lại thực sự trở thành nẻo đường đưa đến sự Khôn Ngoan Đích Thực và Trọn Vẹn, là chính Đức Kitô và ơn Cứu Độ của Ngài, bằng một nỗ lực nỗ lực "hội nhập văn hóa" hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất [3]. Bởi vì, đối với người Kitô hữu, cho dù dấn thân vào lãnh vực nào đi nữa, sự khôn ngoan đích thực không thể là gì khác hơn Chính Đức Kitô. Nói cách khác, cho dù có bị coi thường dưới mắt những người "duy lý", chúng ta không có cách nào làm nhẹ đi điều Thánh Augustin đã nói : "...chỉ có triết lý Kitô giáo là triết lý đích thực, nếu quả thật từ ngữ này có nghĩa là sự nhiệt thành hoặc tình yêu đối với sự khôn ngoan" [4].
Như thế, triết lý không phải chỉ là một phương pháp để phân tích và trình bày thần học; và triết lý cũng không phải chỉ là một sự khôn ngoan để hiểu biết "đời người và người đời". Thái độ thứ nhất dễ đưa tới cái nhìn giản lược về con người; thái độ thứ hai thì lại không thể tạo nên một sự thống nhất của một con người có niềm Tin, với một ý hướng duy nhất trên con đường tìm giải đáp cho vận mệnh của mình.
Sự nhìn nhận này chắc chắn phải đưa tới một cách thức suy tư, phán đoán, cảm nhận... riêng biệt của người Kitô hữu đối với triết học. Như thế, tuy đã có nhiều cách thức đã được đề nghị [5] để nghiên cứu lịch sử triết học Tây Phương mà mỗi cách thức đều có sở trường, sở đoản; cách thức của người Kitô hữu trước vấn đề triết học không thể là gì khác hơn sự đối chiếu giữa triết học và niềm Tin, để nhận ra và đi vào lịch sử cứu độ vẫn đang "trở nên trọn vẹn" trong lòng thế giới hôm nay, như Lời Chúa đã hứa trong Tin Mừng Gioan:
"Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí Chân Lý đến, Người sẽ dẫn anh em tới Chân Lý toàn Diện, Người sẽ không tự nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy và loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì của Thầy và loan báo cho anh em".
(Ga 16,12-15)
2. TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Khoảng vài chục năm nay, người ta nói đến một thứ "phá sản của tư tưởng Tây Phương" [6]. Nhiều người cho rằng phải quay về với những ý niệm, những lối nhìn của Đông Phương như là phương thuốc duy nhất để vượt qua cơn khủng hoảng tư tưởng của thế giới. Mặt khác, trong Giáo Hội Công Giáo, nhiều người thấy rằng triết học tây phương chẳng những không thể diễn tả hết thực tại Đức Tin, nhưng còn có nhiều điều trái ngược với nền tảng sâu xa của Đức Tin nữa.
Những điều đó không phải là không đúng. Tuy nhiên, việc nhìn lại khoa triết lý tây phương trong viễn tượng thần học Kitô giáo không phải chỉ là một thứ bảo thủ hay "sính hàng ngoại", nhưng nó là "vấn đề lịch sử"; nghĩa là dù sao đi nữa, từ khởi đầu Kitô giáo cho đến nay, nền thần học Kitô giáo vẫn chấp nhận nền tảng triết lý đó trong những nét căn bản.
Mặt khác, theo Renan, nền văn minh Tây Phương được dựa trên hai cột trụ :
- Văn Minh Hy-La: mang lại những nền tảng đầu tiên của lý trí, áp dụng trong nghệ thuật, văn chương, khoa học và triết học.
- Tinh thần Do Thái-Kitô giáo: mang lại niềm tin tôn giáo.
Hai nguồn cội đó có khá nhiều điểm khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau. Thế mà chúng lại thường được trộn lẫn với nhau, nhiều khi ngay trong một hệ thống triết lý hoặc thần học [7]. Nếu chúng ta nhìn ra được những nét riêng của mỗi nguồn ảnh hưởng và biện phân được những đường nét đó trong các hệ thống triết lý vốn có liên can mật thiết đến thần học Kitô giáo, thì cơ may để tìm về gần hơn với thực tại cứu độ có lẽ sẽ gia tăng hơn nhiều.
Một vài nhận định trên đưa chúng ta đến cách thức nghiên cứu môn lịch sử triết học tây phương trong mối tương quan với ơn gọi Kitô hữu (dĩ nhiên cũng bao hàm ơn gọi làm người) và trong tương quan với sứ vụ của những người "mục tử". Cách thức này rất dễ đưa đến những cái nhìn giáo điều, hẹp hòi, đơn giản hóa vấn đề. Tuy thế, nó "thật" hơn; "thật" trong thân phận con người, vì con người, trong tính cách giới hạn căn bản của mình, luôn phải khởi hành trong sự can đảm dám liều; "thật" trong thực tế cuộc sống, vì người ta không thể nào khởi đầu một hành trình mà không có một "niềm tin" nào đó; và "thật" với chính mình, vì chúng ta không thể nào tạm "cho vào trong ngoặc" niềm Tin của mình. Chúng ta trân trọng đón nhận những lời tố cáo nói trên như là một sự cảnh giác quí báu, để đừng dễ dãi lấy niềm Tin che lấp thực tại. Niềm Tin đích thực phải thúc bách chúng ta luôn cố gắng tìm hiều sâu sắc hơn "huyền nhiệm con người", chứ không phải cản trở con đường đó. Những nhận định trên cũng đưa tới một số vấn đề cần phải làm sáng tỏ:
- Kitô giáo và thách đố của sự khôn ngoan.
- Vai trò của mỗi loại "tinh thần", "não trạng", của Hy-La và Do Thái-Kitô giáo.
II. KITÔ GIÁO VÀ THÁCH ĐỐ CỦA SỰ KHÔN NGOAN NHÂN LOẠI [8]
Với tư cách là một Kitô hữu, vấn đề vai trò của triết học được đặt ra giống hệt như dân Israel xưa và giống như thời đầu của Kitô giáo : vừa như một thách đố, vừa như một hồng ân.
Dân Israel vừa cố gắng tin vào Thiên Chúa lại vừa bị quyến rũ bởi nền văn minh của các dân tộc chung quanh. Cám dỗ về sự khôn ngoan của "nhân loại" như thế hình như là một đường căn bản trong dòng lịch sử ơn Cứu Độ.
Cũng như dân Israel xưa, Giáo Hội sơ khai gồm phần lớn là những người bị loại ra bên lề xã hội, bị loại trừ khỏi con đường giải thoát bằng triết lý khôn ngoan của người Hy Lạp (Xc.1Cr 1,26 tt).
Và cũng như dân Israel, người Kitô hữu thời sơ khai gặp phải cũng gặp phải những thách đố của sự khôn ngoan hết sức gay gắt; chúng ta nên đọc lại một lần nữa bản văn 1Cr 1,17-25 để thấy rõ tính chất "quan trọng" và "ác liệt" của thách đố này.
Thật ra, triết học, là một giá trị "nhân bản" mà đời sống Đức Tin đích thực phải giúp cho tăng triển hơn chứ không phải xóa bỏ đi cách dễ dàng [9]. Bởi vì, niềm tin vào Thiên Chúa chẳng những không loại bỏ niềm tin vào con người, mà lại càng củng cố hơn nữa niềm tin đó. Tuy nhiên, nếu niềm tin căn bản được đặt nơi Thiên Chúa, thì trước hết người ta phải nhìn nhận sự bất lực căn bản của con người. Như thế, người tín hữu không thể đặt niềm tin căn bản của mình vào một ai khác, một giải pháp nào khác hơn chính Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Ngài.
Vấn đề nằm ở chỗ làm cách nào niềm tin Kitô Giáo hoàn toàn có thể và phải dung hợp với những nỗ lực của con người. Ở đây, ta thấy được nét độc đáo của độc đáo của mạc khải Kitô giáo, đó là tính cách "bao dung", trong đó Thiên Chúa sử dụng con người không phải như một dụng cụ hoàn toàn thụ động, hoàn toàn ù lì, nhưng như những "dụng cụ có suy tư". Thiên Chúa không đọc chính tả cho thánh ký hay cho Giáo Hội để xác định một các cứng ngắt chân lý mặc khải, nhưng Ngài sử dụng, thánh hóa, chuẩn y khả năng của con người để truyền thông Sứ Điệp của Ngài. Không có mặc khải ở những nơi mà, cách này cách khác, không dính dáng, không có lòng tha thiết với cuộc sống, không gắn bó với vận mạng của con người (Xc. Kh 3,15-16).
Hơn nữa, nét riêng biệt của niềm tin Kitô giáo là vai trò của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho những chân lý mặc khải của Thiên Chúa trở thành chân lý của cuộc sống thực. Vai trò của Chúa Thánh Thần trong dòng lịch sử ơn Cứu độ làm cho "Thiên Chúa trọn vẹn là Thiên Chúa" và "con người trọn vẹn là con người"; làm cho chân lý vừa luôn vĩnh cửu, vừa luôn có một "sử tính"; làm cho sự sống của Thiên Chúa "nhập thể" trọn vẹn vào cuộc sống con người, và nỗ lực của con người trọn trẹn có thể trở nên siêu nhiên.
III. NÃO TRẠNG DO THÁI - KITÔ GIÁO VÀ NÃO TRẠNG HY LẠP
Chúng ta ghi nhận một vài nét chủ đạo và cố gắng nhìn ra điều này trong tư tưởng của các triết gia
1. ẢNH HƯỞNG CHÍNH CỦA DO THÁI-KITÔ GIÁO
1.1 Ý tưởng "sáng tạo vũ trụ từ hư vô"
Với người Do Thái, vũ trụ chẳng những lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa và Ngài không lệ thuộc hay bị điều kiện hóa do một ai khác; nhưng hơn nữa, chính Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ. Vũ trụ không vĩnh cửu, ý tưởng này hoàn toàn xa lạ với tư tưởng Hy Lạp.
1.2 Ý tưởng về tính cách cá vị (personnalité) của Thượng Đế
Nói tới tính cách cá vị là nói tới một nguyên lý hoạt động bằng tự do, có lý trí và ý muốn. Trong khi người Hy lạp thì coi Thần Thánh chỉ như một sự tự hiểu biết chính mình, không biết đến ai khác; và được bộc lộ trong luật lệ của thành bang.
2. ĐÓNG GÓP CỦA HY LẠP
2.1 Trước tiên, người Hy Lạp là những người sáng tạo ra khoa học, gồm những khoa học trừu tượng, tạo nên những đường nét căn bản cho suy tư của người tây phương như toán học; và những khoa học áp dụng, giúp tăng tiến rất nhanh khả năng của nhân loại như y học, thiên nhiên học, sinh vật học.
Chính người Hy Lạp đã biết thay thế những ghi nhận đơn giản của các dân tộc khác, chỉ hoàn toàn do kinh nghiệm, bằng những nguyên tắc phổ quát, dựa trên những con số, những hình dáng chung nhất, để có thể áp dụng cho nhiều sự kiện riêng lẻ.
2.2 Người Hy Lạp đã sáng tạo ra khoa "siêu hình học tự nhiên", tức là một cách thức, thuần túy bằng lý trí, để khám phá ra, đằng sau những dáng vẻ bên ngoài của sự vật, những điều bất biến và phổ quát. Đó là một "con mắt tinh thần" biết nhìn thấy những cơ cấu nền tảng "siêu hình", nâng đỡ những sự vật khả giác hữu hình.
2.3 Sau cùng, người Hy Lạp là những người đã sáng tạo ra văn phạm, luận lý, biện chứng, triết học; mang lại cho khoa học một dụng dụ phân tích độc đáo; hình thành một thứ ngôn ngữ chính xác, uyển chuyển, giúp ích rất nhiều cho các ngôn ngữ tây phương hiện nay. Chúng ta có thể kể một vài từ ngữ và ý niệm thuần túy Hy lạp đã trở thành những yếu tố căn bản trong ngôn ngữ và tư duy của người tây phương như : "vô hạn", "tất yếu", "bản thể", "hữu thể", "nguyên lý", "thiên nhiên", "mục đích", "trật tự", "chất thể", "mô thể".....
3. NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN
Trong lịch sử, người ta thường kể ra những khác biệt chính yếu như sau :
3.1 Tư tưởng do Thái, với niềm Tin về Thiên Chúa sáng tạo và hoàn tất lịch sử trong ngày Cánh Chung đã tạo nên khái niệm thời gian diễn tiến theo đường thẳng, có khởi đầu và kết thúc. Người Hy Lạp không biết đến sáng tạo nên cũng không có một quan niệm về lịch sử đúng nghĩa. Người Hy Lạp quan niệm thời gian đi theo đường vòng tròn; do đó, lịch sử không có tính chất của một biến cố có tầm quan trọng không thể thay thế dòng thời gian.
3.2. Người Sê-mít Quan niệm Thiên Chúa có tính cách cá vị sống động, có quyết định, có tự do và có mối tương quan với con người một cách ngã vị. Về bản chất con người cũng thế, người Israel không biết đến não bộ như người Hy Lạp; trọng tâm của con người nằm trong trái tim, bao gồm trí nhớ, "trí hiểu" và lòng muốn; và trái tim là để đi đến một cách "biết" mang tính cách tương quan ngôi vị. Trong khi đó, người Hy Lạp coi Thần Linh như một sự khôn ngoan, "giản lược" vào luật lệ của thiên nhiên hay của thành bang; do đó, điều cần thiết căn bản của con người là "hiểu biết".
Do đó, đối với người Do Thái, con người là thụ tạo của Thiên Chúa và được kêu gọi sống trong những mối tương quan ngôi vị. Nét căn bản để hoàn thành vận mạng con người không phải là hiểu biết các định luật trong thiên nhiên như người Hy Lạp, mà là hướng mở với một tha-thể, chính yếu là đời sống thân tình với Thiên Chúa. Quan niệm đó làm cho đời sống của người Do Thái được đặt trong khuôn khổ sự trung tín với lời giao ước.… Trong khi đó, người Hy Lạp đề cao sự hiểu biết thần minh, hiểu biết “qui luật của thần minh, biểu lộ trong qui luật của thiên nhiên; do đó, yếu tố quan trọng nhất trong đời sống con người là sự khôn ngoan của lý trí.
3.3 Người Hy Lạp coi hoàn hảo là cái hữu hạn, cái gì vô hạn nghĩa là chưa hoàn thành. Ngược lại, Người Do Thái mở hướng đến siêu việt, coi Thiên Chúa là Đấng không có giới hạn, vô cùng. Lối nhìn đó đưa con người vào một nẻo đường chỉ có thể hoàn thành được nơi Thiên Chúa.
4. MỘT SỐ DỊ BIỆT KHÁC
4.1 Theo Kinh Thánh, con người làm chủ và cao trọng hơn thiên nhiên; chứ không phải con người bó buộc tuân theo các định luật tất định của thiên nhiên như trong tư tưởng Hy Lạp. Nhưng việc làm chủ thiên nhiên này không nằm riêng biệt mà là sứ mệnh của con người đối với Thiên Chúa.
4.2 Người Israel không phân biệt rõ ràng hai phần hồn xác trong con người như người Hy Lạp. Quan điểm Kinh Thánh nhìn con người như một toàn thể, thể hiện ra trong từng khía cạnh, nhưng vẫn thuộc về một toàn thể. Thí dụ: "thân xác" diễn tả tính mỏng dòn, sự giới hạn của toàn thể con người; "thân xác" không đối lập với "linh hồn", nhưng đối lập với "thần khí".
4.3 Mầu nhiệm tội lỗi được nói tới ngay trong khởi đầu của lịch sử nhân loại, cho thấy một sự xao xuyến căn bản nào đó trong thân phận con người. Con người trong viễn tượng Kinh Thánh không có một sự lạc quan tự nhiên như các phương thức triết lý luân lý của người Hy Lạp. Chẳng hạn lập trường của Socrate là: không ai làm điều xấu một cách cố tình; còn thánh Phaolô nói trong thư Roma là: "Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn tôi lại cứ làm" (Rm 7,19).
4.4 Cái nhìn của Kinh Thánh mang tính cách cụ thể. Trong Kinh Thánh, ta chỉ thấy kể một chuỗi các hành động, hầu như không có từ ngữ trừu tượng. Để nói về "sự hiểu biết" như người Hy Lạp, người Do Thái nói "mở tai", hoặc từ "biết" được hiểu là cả một mối liên hệ thân quen. Thiên Chúa của Dân Israen cũng không phải là do từ suy tư mà khám phá ra như với người Hy Lạp, nhưng do kinh nghiệm hành động của Thiên Chúa trong lịch sử.
Những đường nét đó không chỉ là những sự kiện quá khứ, nhưng vẫn còn những ảnh hưởng sâu đậm, cách này cách khác, trong những suy tư triết học cũng như trong tâm thức của con người Tây Phương. Quả thật, người Tây Phương là những người con thiêng liêng của Kitô giáo và là những người con tinh thần của đất nước Hy lạp.
KẾT
Với người Kitô hữu, triết lý không có chức năng giải quyết vận mạng con người; vì điều đó chỉ có nơi Ơn Cứu Độ của Đức Giêsu mà thôi. Nhưng triết lý thực sự lợi ích, xét như là một cách thức nhìn, là một phương tiện để soi xét cuộc đời, để thấy rõ những tầng sâu trong cuộc sống và những gì bao quanh cuộc sống của con người. Như thế, triết lý giúp ta thấy những nét đẹp tiềm ẩn của cuộc đời và đồng thời cũng phải cho thấy những bế tắc căn bản của vận mạng con người. Người Kitô hữu trưởng thành không sợ triết học, mà cũng không thể mê say triết học như là triết học; bởi vì triết học chỉ có thể là nẻo đường hướng tới chân lý, chứ không phải là chính chân lý.
Có thể, chính khi triết lý tự nhận thấy giới hạn của mình và giúp nhìn ra sự bất lực căn bản của con người thì triết lý lại làm trọn vẹn hơn sứ mạng của Người Chỉ Đường.
PHỤ LỤC
MỘT SỐ CHỈ DẪN CỦA GIÁO HỘI LIÊN QUAN ĐẾN TRIẾT HỌC
I. CÔNG ĐỒNG VATICAN II
1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRIẾT HỌC
* MV 62b : Cần nói ngôn ngữ thích hợp với thời đại.
* MV 7c : Nhiều triết thuyết ảnh hưởng tới con người.
* NK 2a : Các tôn giáo khác cũng liên hệ đến một nền triết học nào đó
* MV 57c : Triết học thăng tiến con người, (vì Khôn Ngoan "nô đùa trên trái đất và vui mừng ở với con cái loài người"; Cn 8,30-34) .
1.2 LIÊN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC
* LM 15a,b,c: Triết học và thần học phải làm nên một đường lối chung.
* LM 14 a : Giúp nhận ra những mối liên hệ giữa các lý luận triết học và Mầu Nhiệm Cứu Độ.
1.3 CHÚ Ý TỚI TRIẾT HỌC CỦA MỖI ĐỊA PHƯƠNG
* TG 22b : Việc thích nghi Mặc Khải vào văn hóa dân tộc.
* MV 44b : Dùng triết học để diễn tả Đức Tin.
1.4 VIỆC GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC
* TG 16 : Giúp thấu triệt những lý do làm cản trở mối liên lạc giữa các truyền thống và tôn giáo dân tộc với Kitô giáo.
* ĐT 15a : Để có một hệ thống chắc chắn về con người, về thế giới và về Thiên Chúa.
* ĐT 15b : Môn triết sử để giúp khám phá chân lý và phi bác các sai lầm.
II. TRIẾT HỌC Ở ĐẠI CHỦNG VIỆN
Đầu năm 1970, Thánh bộ Giáo Dục Công giáo (Sacra Congregatio pro Institutione catholica) đã công bố một văn kiện hướng dẫn việc huấn luyện linh mục với nhan đề: Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis. Chúng ta ghi một vài điểm liên quan đến môn triết học:
"Hoàn cảnh hiện tại tuyệt đối đòi hỏi, dưới nhiều hình thức, cần phải có một sự huấn luyện triết học chính danh:
*/ Mục đích việc học các môn triết, cũng như việc huấn luyện chu đáo do hoàn cảnh đòi hỏi, đều đã cho thấy rõ: việc học vấn nói trên chẳng những không xa lạ gì với công cuộc sưu tầm và truyền bá đức Tin, mà còn đóng góp vào đó một phần chính yếu. Vậy, mối tương quan ấy phải được nêu lên rõ rệt hơn, trong cách thức giảng dạy, trong việc trao đổi giữa các nhà thần học và triết học và trong cách phân phối mạch lạc các học đề của hai môn học ấy. Như thế, nhờ các môn triết, sinh viên sẽ cố gắng tiến bước trên đường chân lý và tình yêu của Chúa Kitô, chớ không phải như bó buộc tránh xa. Công Đồng Vatican II, trong nhiều văn kiện, nhất là trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, đã chứng minh đầy đủ về điểm nầy. Những nguyên tắc đúng đắn triết học giúp phục vụ, áp dụng vào đời sống và đề cao các chân giá trị Kitô trong sinh hoạt xã hội và văn hóa ngày nay, để mưu ích cho toàn thể nhân loại.
*/ Nhiệm vụ dạy triết học đòi hỏi nơi giáo sư một sự chuẩn bị thật chu đáo. Vì thường có trường hợp thiếu giáo sư có khả năng chuyên môn giảng huấn, nên các học viên không biết nắm vững đối tượng môn học và chọn đúng lập trường, thành ra, kể các lập trường triết học như những trò chơi chữ trí thức mà thôi.
*/ Muốn đạt kết quả mong ước, triết học phải gắn bó mật thiết với những vấn đề của thời đại chúng ta. Xin đan cử một số như: khuynh hướng vô thần ngày càng lan rộng sâu xa; những nỗ lực tách rời đức tin khỏi tôn giáo, hay những ẩn đề triết học gây phương hại cho công việc chú giải chân chính về Lời Chúa; tầm quan trọng của những môn: tâm lý học, xã hội học và khoa học nhân văn trong tâm trí con người ngày nay.
*/ Vì thế, những điều vừa kể trên cũng đủ cho thấy rằng: những ai không nghiêm chỉnh bắt ta vào việc học triết học, thì không thể lãnh nhận chức linh mục được.
*/ Môn triết sử cũng phải được quan tâm, nhằm nêu ra nguồn gốc và tiến trình của những vấn đề quan trọng nhất, trình bày những giải đáp trong dòng lịch sử, để người sinh viên có thể phân biệt được những yếu tố chân lý và loại bỏ những điều sai lầm.
(Trích lại trong giáo trình cha Lê Tấn Thành, Sđd, I, trang 1-2)
III. TÔNG HUẤN "CÁC MỤC TỬ"
Đức Gioan-Phaolô II, ban hành ngày 25-3-1992
"Học hỏi triết lý là một yếu tố nền tảng của việc huấn luyện trí thức. Việc học hỏi này đưa đến sự hiểu biết và giải thích sâu xa hơn về ngôi vị, về tự do, về các mối tương quan của họ với thế giới và với Thiên Chúa. Việc này hết sức cấp thiết, trước hết, do mối liên hệ giữa các vấn đề triết lý và các mầu nhiệm cứu độ, được nghiên cứu trong thần học, theo ánh sáng Đức Tin, nhưng cũng do hoàn cảnh khá phổ biến của nền văn hóa hiện nay, trong đó thuyết chủ quan được đề cao như thước đo và tiêu chuẩn của chân lý. Khi đó, chỉ có một nền triết lý lành mạnh mới có thể giúp các ứng sinh linh mục phát triển ý thức phản tỉnh về mối tương quan có tính cách xây dựng giữa lý trí con người và chân lý, một chân lý được mặc khải trọn vẹn cho ta qua Đức Giêsu Kitô".
(...) "Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói : "Đức Kitô đã nên người đồng thời với một số người, và đã tự bộc lộ trong ngôn ngữ của họ. Trung thành với Đức Giêsu tức là làm thế nào để Người tiếp tục là một người đồng thời với chúng ta" (số 52).
IV. VATICAN II NHÌN VỀ LỊCH SỬ NHÂN LOẠI HIỆN NAY
[Bài đọc thêm]
"Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn chất chứa những đổi thay sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới toàn thể hoàn cầu. Những thay đổi do óc thông minh và nỗ lực sáng tạo của con người khơi dậy, đang trở lại ảnh hưởng trên chính con người, trên những phán đoán và ước vọng cá nhân hay tập thể con người, trên cách suy tư và hành động đối với sự vật cũng như con người. Như vậy, chúng ta có thể nói đến sự biến đổi đích thực về mặt xã hội cũng như văn hóa; sự biến đổi này đang lan tràn tới cả đời sống tôn giáo".
"Cũng như trong bất cứ cơn khủng hoảng tăng trưởng nào, sự biến đổi này kéo theo những khó khăn không nhỏ. Chẳng hạn như đang khi bành trướng quá rộng quyền lực của mình, không phải lúc nào con người cũng có thể bắt nó phục vụ mình. Cố gắng đi sâu hơn vào thâm tâm mình, con người nhiều khi lại tỏ ra hoang mang hơn về chính mình. Dò dẫm tìm hiểu rõ hơn những luật lệ đời sống xã hội, con người lại do dự không dám định đoạt hướng đi cho mình".
(...) "Do những hoàn cảnh phức tạp như thế chi phối, rất nhiều người đương thời thấy khó lòng có thể nhận chân được những giá trị trường cửu và đồng thời cũng khó mà hòa hợp những giá trị ấy cho đúng với những phát minh gần đây. Do đó, bị lay động giữa hy vọng và âu lo, băn khoăn về sự xoay chuyển của thế giới đang thách đố và thúc bách con người tìm câu giải đáp".
(...) "Chính lịch sử đang biến chuyển quá nhanh đến nỗi từng cá nhân riêng rẽ khó lòng theo kịp. Vận mạng cộng đoàn nhân loại trở nên một và không còn phân ra nhiều thứ lịch sử tách biệt nhau nữa. Như vậy, từ một quan niệm tĩnh về vũ trụ, nhân loại đã bước sang một quan niệm động và tiến hóa hơn; do đó phát sinh những vấn đề hết sức phức tạp mới mẻ, đòi phải có những phân tích và tổng hợp mới".
(Vatican II, MV. 5-6)

Chú thích:
[1] Xc. Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, số XI; Tông Huấn "CÁC MỤC TỬ", số 52; Xc: Phần phụ lục : Những chỉ dẫn của Giáo Hội về môn triết.
[2] Vat. II, ĐT 15a; Ratio fund. số XI.
[3] Xc: Vat.II ĐT 15a,b ; Tông Huấn Các Mục Tử, số 55, b,c.
[4] Contra Julianum, lib.4, no.72, PL 44,774; trích lại trong Philippe Delhaye, Philosophie Chrétienne au Moyen Age, Je sais - Je crois, p. 13; Xc. Vat.II ĐT 15a, b; Tông Huấn Các Mục Tử, số 55, b,c.
[5] Như Henry Gouhier, trích lại trong Regards sur la Philosophie contemporaine, Casterman 1957, 2è Edit., pp. 15-18. Hoặc: Denis Huisman, Guide de l' Etudiant en Philosophie, Presses Universitaires de France, 1956, Chap. IV, pp. 103-113.
[6] Xc. Lê Tôn Nghiêm, Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây Phương, Lá Bối 1970.
[7] Adolf Harnack (1851-1930), trong cuốn Manuel d' Histoire du Dogme, đã coi tín điều Kitô giáo như hậu quả của một tiến trình hy-lạp-hóa sứ điệp Kitô Giáo. Xc Rosino Gibellini, Panorama de la Théologie au XX è. S., Edition du Cerf, Paris 1994, p.11.
[8] Xc. Giáo trình Triết Học Nhập Môn, Nguyễn Trọng Viễn.
[9] Xc Vatican II, MV s.21c; s.34 c.